Có thể chia hoạt động công tác chính trị trong chiến dịch Điện Biên Phủ ra ba thời kỳ rõ rệt:
1. Từ tháng 11-1953 (các đơn vị chủ lực lần lượt nhận mệnh lệnh hành quân đi chiến đấu) đến ngày 13-3-1954 (bắt đầu trận đánh mở màn chiến dịch).
Thời kỳ này, công tác chính trị có mấy nét nổi bật sau đây:
1. Đông Xuân 1953-1954, cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân xâm lược Pháp bước sang năm thứ tám. Dù đã suy yếu nhưng được đế quốc Mỹ tăng cường viện trợ, thực dân Pháp vẫn tìm mọi cách phản công quyết liệt, hòng giành lại quyền chủ động, thể hiện rõ trong kế hoạch Na-va. Trước tình hình đó, quân dân ta không hề nao núng, hoàn toàn tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng. Chuẩn bị cho chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, quân đội ta đã qua một mùa rèn cán chỉnh quân, nâng cao giác ngộ dân tộc và giác ngộ giai cấp, sẵn sàng lên đường ra trận, với quyết tâm cao để giành thắng lợi. Hậu phương lại đang đẩy mạnh cuộc vận động giảm tô và cải cách ruộng đất, đem lại luồng sinh khí mới cho cán bộ, chiến sĩ ngoài mặt trận mà số đông là nông dân. Đó là thuận lợi cơ bản làm tiền đề cho thành công của công tác chính trị trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
Bên cạnh đó, cán bộ và chiến sĩ cũng có những tư tưởng lệch lạc cần phải uốn nắn ngay từ đầu. Khuynh hướng đầu tiên cần khắc phục là tư tưởng ngại chiến đấu ở rừng núi, thích về đồng bằng đông dân trù phú, cuộc sống đỡ gian khổ lại gần quê hương, gia đình. Nhiệm vụ của công tác chính trị lúc này là giáo dục sâu rộng làm cho cán bộ và chiến sĩ thấu suốt phương châm “tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt”, xác định cho mọi người tinh thần “đâu có giặc là ta cứ đi”.
2. Trước khi trận đánh dự kiến bắt đầu, đã xảy ra một sự kiện vô cùng quan trọng. Đó là việc thay đổi đột ngột phương châm và cách đánh của chiến dịch chỉ khoảng 6 tiếng đồng hồ trước giờ nổ súng. Ngày 26 tháng 1 năm 1954, khi các đơn vị bộ binh, công binh, pháo binh, cao xạ đã vào vị trí chiến đấu, thì nhận được lệnh hoãn cuộc tiến công, kéo pháo ra, lui quân về vị trí tập kết. Riêng Đại đoàn 308 phải hành quân cấp tốc sang Thượng Lào để phối hợp với bộ đội bạn đánh địch dọc tuyến sông Nậm Hu (có khi viết là Nậm U), uy hiếp thủ đô Luang Prabang.
Mặc dù không ít cán bộ, chiến sĩ còn băn khoăn, thắc mắc, cho là ta đã mất thế bất ngờ và trở thành bị động... Nhưng mệnh lệnh đó đã được chấp hành một cách triệt để, với một tinh thần kỷ luật tuyệt vời! Trên cơ sở tư tưởng đã được chuẩn bị tốt khi bước vào chiến dịch, công tác chính trị đã được triển khai sâu rộng đến từng cán bộ, chiến sĩ để mọi người hiểu rõ vì sao ta hoãn cuộc tiến công. Ta vẫn giữ quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ, nhưng phải chuyển qua phương châm “đánh chắc, tiến chắc”. Phải có thêm thời gian để chuẩn bị đầy đủ hơn nhằm quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chủ tịch: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh". Chiến dịch có thể kéo dài suốt mùa mưa, gian khổ ác liệt còn nhiều, nhưng chúng ta quyết tâm đánh thắng.
3. Một vấn đề mới đặt ra trong công tác chính trị lúc bấy giờ là phải giáo dục tinh thần đoàn kết, hợp đồng chặt chẽ giữa các binh chủng, vì đây là lần đầu các đơn vị bộ binh được sự yểm trợ của lựu pháo 105 ly và pháo cao xạ; phải đoàn kết với các đơn vị công binh đang đóng vai trò rất quan trọng trong công tác chuẩn bị chiến dịch. Không chỉ đoàn kết giữa các đơn vị bộ đội mà còn đoàn kết bộ đội với thanh niên xung phong và dân công, đặc biệt với thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến.
Trong quá trình chuẩn bị chiến dịch theo phương châm mới, nhiều khẩu hiệu động viên chính trị đã được nêu ra, gắn liền với nhiệm vụ của từng đơn vị:
- Chuẩn bị tốt là đã giành thắng lợi được một nửa!
- Đem sức lao động ra để làm đường kéo pháo, xây dựng các trận địa tấn công, đổ mồ hôi hôm nay để ngày mai tiết kiệm xương máu cho đồng đội!
- Bảo đảm đường sá thông suốt là đảm bảo thắng lợi!
- Xây dựng công sự dày thêm một tấc là tạo thêm điều kiện để chiến thắng quân địch!2. Từ trận đánh Him Lam (13-3-1954) đến ngày kết thúc chiến dịch (7-5-1954)
Đây là thời kỳ diễn ra những cuộc chiến đấu gay go, ác liệt nhất, một cuộc đọ sức rất lớn về ý chí chiến đấu giữa ta và địch. Công tác chính trị trong thời kỳ này có đặc điểm sau đây:
Cuộc tiến công vào phân khu Bắc thu được thắng lợi giòn giã, cánh cửa phía Bắc tập đoàn cứ điểm đã được mở toang. Sau thắng lợi vang dội đó, bộ đội vô cùng phấn chấn, đã tranh thủ nghỉ ngơi, chỉnh đốn lại đội ngũ, bổ sung quân số, vũ khí, đạn dược và khẩn trương chuẩn bị cho cuộc tiến công đợt hai chiến dịch.
Một việc có tầm quan trọng rất lớn lúc đó là xây dựng hệ thống trận địa tiến công và bao vây chiến dịch với hàng trăm kilômét giao thông hào, chiến hào và công sự các kiểu, nhằm tạo điều kiện cho bộ đội ta phòng tránh phi pháo địch, đồng thời cô lập phân khu Mường Thanh với phân khu Hồng Cúm, xiết chặt vòng vây lại. Công việc đào đắp này được thực hiện hoàn toàn bằng sức người với cuốc xẻng thô sơ. Đây không chỉ là một công trình lao động lớn mà thực sự là một cuộc chiến đấu một mất một còn với địch. Chúng đã sử dụng mọi cỡ hỏa lực để ngăn chặn và phản kích quân ta một cách quyết liệt. Bất chấp sự lồng lộn, điên cuồng của địch, các giao thông hào ngày càng tiến sát vị trí đóng quân của địch ở phân khu Trung tâm, như một dây thòng lọng xiết dần cổ họng của chúng. Công tác chính trị lúc này đã tiếp tục làm cho mọi người thấy rõ ý nghĩa quan trọng của việc đào trận địa tiến công và bao vây đối với thắng lợi của chiến dịch, phải kiên quyết thực hiện cho kỳ được, không sợ gian khổ, hy sinh.
Ngày 20 tháng 3 năm 1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng Tư lệnh kiêm Chỉ huy trưởng chiến dịch đã viết thư động viên cán bộ và chiến sĩ. Đại tướng so sánh những khó khăn vất vả của bộ đội ta với sự khốn quẫn và khó khăn gấp mười lần của địch bị vây hãm trong tập đoàn cứ điểm, kêu gọi cán bộ, chiến sĩ ta nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, chiến đấu anh dũng để xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc trận địa tiến công và bao vây, bảo đảm thắng lợi cho đợt tiến công sắp tới.
Địch tuy bị vây hãm nhưng vẫn cố gắng tăng viện và tăng cường ném bom, bắn pháo và phản kích ở những nơi chúng còn có khả năng.
Bộ đội ta ngày càng có nhiều chiến sĩ bị bệnh và bị thương. Đặc biệt các đơn vị chủ công chiến đấu ở đồi A1, C1 bị tổn thất nặng, phải bổ sung nhiều cán bộ mới, đề bạt nhiều tân binh chưa được huấn luyện kỹ và chưa có kinh nghiệm chiến đấu.
Từ khi bộ đội hành quân ra trận đến tháng 4 năm 1954, thời gian đã hơn 5 tháng. Hiện tượng mỏi mệt, tư tưởng ngại chiến dịch kéo dài, ngại gian khổ bắt đầu xuất hiện.
Điện Biên Phủ cách xa hậu phương từ 500 - 700km, đường vận chuyển tiếp tế thường xuyên bị bắn phá, có lúc gạo chỉ còn ăn được vài ngày, dự trữ đạn pháo còn rất mỏng. Bộ đội lao động và chiến đấu mệt nhọc cần được bồi dưỡng nhưng lại phải giảm bớt khẩu phần ăn. Những trận mưa đầu mùa ập đến, các giao thông hào lầy lội, cuộc sống của các chiến sĩ trong các trận địa chiến hào ngày càng gian khổ. Sau các trận mưa rào, nắng lại dữ dội hơn, không khí chiến trường oi ả, ngột ngạt. Số bệnh binh, thương binh phải điều trị ở mặt trận ngày càng nhiều.
Trước tình hình đó, công tác chính trị đã đi sâu phân tích ý nghĩa quan trọng của chiến dịch, làm cho mọi người nhận rõ tiêu diệt được toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ sẽ tạo ra một cục diện mới cho cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương. Nêu cao thắng lợi của ta ở mặt trận Điện Biên Phủ và các chiến trường phối hợp để cổ vũ khí thế chiến đấu của bộ đội, lấy gương hy sinh dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ được tuyên dương tại mặt trận để đề cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
Mặt khác, công tác chính trị tăng cường giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, vệ sinh phòng bệnh, tổ chức tốt đời sống vật chất và tinh thần cho bộ đội tại trận địa.
Trung tuần tháng 4 năm 1954, một vấn đề lớn đặt ra cho công tác chính trị là tư tưởng hữu khuynh tiêu cực xuất hiện trong một bộ phận cán bộ và chiến sĩ. Đó là tư tưởng ngại kéo dài cuộc chiến đấu, ngại hy sinh gian khổ; hoặc chủ quan khinh địch, muốn kết thúc sớm chiến dịch bằng cách quay trở lại phương châm đánh nhanh, giải quyết nhanh. Do những tư tưởng ấy mà ở một số đơn vị, việc đào trận địa tiến triển ì ạch, cá biệt có cán bộ thoái thác nhiệm vụ chiến đấu. Trước tình hình đó, căn cứ vào báo cáo và đề nghị của Đảng ủy chiến dịch, Bộ Chính trị ra nghị quyết yêu cầu các cấp ủy, các đảng viên và toàn thể cán bộ phải “ra sức khắc phục tư tưởng hữu khuynh, củng cố và đề cao quyết tâm, đề cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, quân đội và Đảng, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm vừa qua, tiếp tục thấu triệt phương châm đánh chắc, tiến chắc, đồng thời tích cực tranh thủ thời gian, triệt để chấp hành mệnh lệnh, vượt qua mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ, giành toàn thắng cho chiến dịch này”1.
Chấp hành nghị quyết của Bộ Chính trị, Đảng ủy chiến dịch đã triệu tập hội nghị đại biểu Đảng ủy các đại đoàn, các đơn vị và cơ quan trực thuộc. Hội nghị diễn ra trong hai ngày, tập trung đánh giá tình hình địch, ta chỉ rõ chỗ mạnh cơ bản và thắng lợi của ta, chỗ yếu cơ bản và thất bại của địch, phân tích những điều kiện đang chín muồi để quân ta tiến lên tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm. Đồng chí Bí thư Đảng ủy phê phán nghiêm khắc tư tưởng hữu khuynh tiêu cực xuất hiện trong cán bộ, đảng viên các cấp, nhấn mạnh trách nhiệm của cán bộ chỉ huy, nhất là cán bộ cấp đại đoàn, trung đoàn.
Sau hội nghị, các đại biểu đã về triển khai hội nghị các cấp ủy, từ đại đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn đến các chi bộ ngay tại chiến hào, dưới tầm hỏa lực của địch. Kết quả to lớn của cuộc đấu tranh là đã khắc phục được những biểu hiện hữu khuynh tiêu cực, nhất là trong đội ngũ cán bộ cốt cán, chuẩn bị cho cán bộ và chiến sĩ một quyết tâm mới, một khí thế mới để chuyển sang đợt tiến công thứ ba.
Cuộc đấu tranh chống tư tưởng hữu khuynh tiêu cực này là một thành công rất lớn của công tác chính trị tư tưởng tại mặt trận Điện Biên Phủ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định: đó là một trong những thành công lớn nhất của công tác chính trị trong lịch sử chiến đấu của quân đội ta. Hạ tuần tháng 4 năm 1954, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ở vào tình thế ngày càng tuyệt vọng. Để cứu nguy cho quân đội Pháp, Lầu Năm Góc đã đề nghị mở cuộc hành binh “Chim kền kền” (Opération Vautour), dùng máy bay B29 ồ ạt dội hàng ngàn tấn bom xuống Điện Biên Phủ. Tổng tham mưu trưởng quân đội Mỹ còn gợi ý dùng bom nguyên tử chiến thuật nhưng bị Chính phủ Anh phản đối nên ý đồ đó không thực hiện được.
Cuộc hành binh mang tên “Chim kền kền” và gợi ý của Rátpho về việc ném bom nguyên tử là những điều chúng tôi biết được sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, qua các tài liệu của phương Tây. Còn tại mặt trận Điện Biên Phủ lúc bấy giờ, cán bộ, chiến sĩ ta, kể cả cấp trung đoàn như chúng tôi, đều đang mải mê chiến đấu, không ai biết đến toan tính của đế quốc Pháp - Mỹ.
Qua tin của địch, lãnh đạo và chỉ huy chiến dịch thừa biết hành động phiêu lưu này của Mỹ không thể dễ dàng thực hiện trong bối cảnh quốc tế ở thời điểm ấy. Và đến hạ tuần tháng 4 tháng 1954, trận địa tiến công và bao vây của ta đã áp sát địch chỉ còn lại mỗi bề không quá 2 km. Trong tình hình đó, làm sao bom nguyên tử Mỹ ném xuống Điện Biên Phủ chỉ tiêu diệt được quân ta mà không diệt luôn cả quân của Pháp?
Luận điểm của một số ít sách nước ngoài, nói “Nhiều cán bộ chỉ huy cao cấp quân đội Việt Nam sợ bom nguyên tử Mỹ, chủ trương rút thật nhanh bộ đội ra khỏi Điện Biên Phủ trước khi nước lũ dâng cao” là hoàn toàn sai sự thật!
Đợt tiến công thứ ba bắt đầu chiều ngày 1 tháng 5 năm 1954 với nhiệm vụ đánh chiếm các điểm còn lại ở phía đông, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch ở phía tây, tổng công kích, tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ.
Với khí thế ra quân mãnh liệt, Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) nhanh chóng tiêu diệt quân địch còn kiểm soát một nửa đồi C1. Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) tiêu diệt hai vị trí 505 và 505A dưới chân các ngọn đồi phía đông ở tả ngạn sông Nậm Rốm. Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) tiêu diệt vị trí 311A ở phía tây; Trung đoàn 57 (Đại đoàn 304) đánh lấn vào khu C phía đông bắc Phân khu Nam. Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) tiêu diệt vị trí 311B chỉ cách sở chỉ huy địch 300 mét. Riêng đồi A1 chưa đánh vào đêm 1 tháng 5 vì phải chờ công binh đào xong con đường hầm để đặt khối bộc phá 1.000 kg.
8 giờ tối ngày 6-5, Bộ chỉ huy mặt trận ra lệnh mở cuộc tiến công mới. Lợi dụng lúc quân địch đang bàng hoàng vì sức chấn động của gần 1.000 kg thuốc nổ, Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) đã từ nhiều hướng đánh lên đồi A1, tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn Lê dương phòng thủ vào sáng ngày 7 tháng 5. Trung đoàn 9 (Đại đoàn 304) mới từ Trung du lên tiêu diệt đồi C2. Trung đoàn 165 (Đại đoàn 312) đánh chiếm vị trí 506. Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) đánh chiếm vị trí 310 ở phía tây nam Sở chỉ huy Đờ-cát 300 mét.
Riêng Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) thì gặp khó khăn khi đánh vị trí 507. Suốt đêm, không mở được đột phá khẩu, vì vấp phải những hàng rào thép gai bùng nhùng dày đặc và hỏa lực bắn thẳng của 23 ụ súng.
Sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, Đảng ủy Trung đoàn họp, kiểm tra lại tình hình, chấn chỉnh lực lượng, tìm cách khắc phục hàng rào bùng nhùng, quyết tâm đánh ban ngày để có điều kiện quan sát địch. Quyết tâm đó đã được chỉ huy trưởng chiến dịch phê chuẩn và chi viện cho một loạt đạn pháo 105 ly.
14 giờ ngày 7 tháng 5 năm 1954, Tiểu đoàn 130 (Trung đoàn 209) tiến công tiêu diệt vị trí 507, cờ trắng xuất hiện ở dọc sông Nậm Rốm. Trung đoàn 209 tiếp tục đánh chiếm 508, 509 sát cầu Mường Thanh.
15 giờ, Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh tổng công kích trên toàn mặt trận, Đại đội Tạ Quốc Luật (C360, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209) đã nhanh chóng vượt cầu Mường Thanh, dùng tù binh dẫn đường tiến thẳng đến hầm Đờ-cát, bắt sống tướng Đờ-cát và toàn bộ Bộ Tham mưu tập đoàn cứ điểm vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 7 tháng 5 năm 1954. 3. Công tác chính trị sau chiến dịch
Sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, rất nhiều công việc phải xúc tiến gấp rút: lãnh đạo bộ đội hành quân trở về hậu phương an toàn để tổng kết, bình công khen thưởng, nghỉ ngơi, bổ sung quân số, huấn luyện, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới. Chăm sóc thương binh địch ngay tại mặt trận và tuyên truyền chính sách nhân đạo của Chính phủ ta, tổng kết kinh nghiệm chiến đấu của bộ đội, kinh nghiệm công tác tham mưu, chính trị, hậu cần trong chiến dịch lớn dài ngày....
Công tác chính trị sau chiến dịch còn phải quán triệt đầy đủ chỉ thị của Hồ Chủ tịch trong thư ngày 8 tháng 5 năm 1954 gửi cán bộ, chiến sĩ, dân công, thanh niên xung phong ở mặt trận Điện Biên Phủ và đồng bào địa phương. Bác nói thắng lợi tuy lớn, nhưng mới là bắt dầu, không nên vì thắng lợi mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch, bất kỳ đấu tranh quân sự hay ngoại giao đều phải đấu tranh trường kỳ gian khổ mới đi đến thắng lợi hoàn toàn. Đúng như lời Bác Hồ dặn, quân và dân ta phải tiếp tục chiến đấu 21 năm nữa mới giành thắng lợi trọn vẹn, giải phóng hoàn toàn đất nước.
Thắng lợi vĩ đại của chiến dịch Điện Biên Phủ bắt nguồn từ những nhân tố sau đây:
- Đường lối chính trị và đường lối quân sự đúng đắn của Đảng và Hồ Chủ tịch.
- Sự chỉ đạo chiến lược, chiến dịch sáng suốt, nhạy bén của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, của Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch.
- Tinh thần chiến đấu dũng cảm, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn của cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến.
- Sự phối hợp nhịp nhàng của các chiến trường cả nước.
- Sự chi viện to lớn của toàn Đảng, toàn dân ở hậu phương.
- Sự phối hợp có hiệu quả của quân dân Lào và Campuchia anh em.
- Sự giúp đỡ tận tình của Trung Quốc, Liên Xô cả về vật chất và kinh nghiệm chiến đấu.
- Sự đồng tình ủng hộ của Đảng Cộng sản, nhân dân lao động và các chính khách thức thời của Pháp, của các dân tộc bị áp bức và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới.
Trong những nhân tố đó, sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ chiến dịch, thông qua công tác Đảng và công tác chính trị tại Mặt trận đã góp phần cực kỳ quan trọng. Công tác chính trị trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã phát huy đến mức cao nhất sức mạnh tinh thần của bộ đội, thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến. Thiếu hoạt động công tác chính trị sâu sát và linh hoạt thì không thể đánh thức tiềm năng của con người trong chiến đấu.
Bài học lớn nhất về công tác chính trị rút ra từ chiến dịch Điện Biên Phủ là phát huy cao độ nhân tố con người trong chiến tranh. Ta chiến thắng ở Điện Biên Phủ không phải vì có nhiều vũ khí đạn dược hơn địch mà trái lại. Bước vào Đông Xuân 1953-1954, chúng ta đứng trước nhiều nhiệm vụ vô cùng to lớn, gặp nhiều khó khăn gay gắt. Nhưng quân và dân ta, với truyền thống cách mạng kiên cường, được sự lãnh đạo đúng đắn, đã hiểu rõ phải làm thế nào để giành thắng lợi và đã chấp nhận gian khổ, hy sinh, quyết tâm chiến đấu với một tinh thần tự giác rất cao. Nhờ vậy quân và dân ta đã khắc phục được những khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua, làm được những việc tưởng chừng không làm nổi. Những hành động phi thường không chỉ cá biệt mà đã trở thành phổ biến. Chưa có một chiến dịch nào xuất hiện nhiều tấm gương xả thân vì nước, anh hùng dũng cảm, xúc động lòng người như chiến dịch Điện Biên Phủ. Đó là biểu hiện sinh động của quyết tâm “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” thể hiện trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Để hoàn thành nhiệm vụ, công tác chính trị đã huy động nhiều lực lượng, nòng cốt là các chính ủy đại đoàn, trung đoàn, các chính trị viên tiểu đoàn, đại đội, các bí thư chi bộ, các phái viên chính trị của mặt trận. Chính lực lượng này đã thường xuyên truyền đạt chủ trương của cấp trên, thông báo tình hình ta và địch đến từng cán bộ chiến sĩ, nâng cao tính năng động tự giác của con người. Bên cạnh đó, phải kể đến lực lượng cán bộ thông tin, tuyên truyền, phóng viên Việt Nam thông tấn xã, Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, phóng viên nhiều tờ báo như Nhân dân, Quân đội nhân dân, Cứu quốc, nhiều nhạc sĩ, nhà văn, nhà điện ảnh, họa sĩ, chiến sĩ văn công phục vụ tại hỏa tuyến đã góp phần không nhỏ vào việc động viên bộ đội, thanh niên xung phong và dân công lập nên chiến công lịch sử.
Phát huy kinh nghiệm của chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng ta cần luôn luôn coi trọng vai trò của công tác chính trị tư tưởng trong việc thực hiện mọi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong xây dựng và sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân. |