|
Là một nước trực tiếp giúp Pháp trong chiến tranh xâm lược Đông Dương và là thành viên của Hội nghị Giơ-ne-vơ, nhưng đế quốc Mỹ không ký vào bản tuyên bố chung của Hiệp định. Với ý đồ chia cắt lâu dài nước ta, nên Hiệp định Giơ-ne-vơ vừa có hiệu lực, Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam làm thủ tướng bù nhìn. Ngày 8 tháng 9 năm 1957, Mỹ lôi kéo các nước Anh, Pháp, Úc, Thái Lan, Phi-líp-pin, Pa-ki-xtan lập khối quân sự Đông Nam Á (gọi tắt là SEATO) và đặt miền Nam Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia dưới sự bảo hộ của khối này. Cùng trong tháng 9, chính phủ Mỹ quyết định viện trợ trực tiếp cho Diệm không qua Pháp, nhằm xây dựng một chính quyền tay sai thân Mỹ ở miền Nam.
Tháng 11 năm 1954, chính phủ Mỹ cử tuớng Cô-lin sang làm đại sứ ở Sài Gòn với kế hoạch sáu điểm nhằm tập trung củng cố chính quyền Diệm, áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ ở miền Nam. Trước sức ép của Mỹ, lại ở thế yếu, thực dân Pháp nhanh chóng nhượng bộ và bỏ trách nhiệm thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ.
Ngay sau khi sang miền Nam Việt Nam, Cô-lin ra Quảng Trị nghiên cứu tình hình, vạch cho Diệm kế hoạch phòng thủ khu vực giới tuyến, ngăn chặn sự tiến công của ta từ miền Bắc.
Được Mỹ nuôi dưỡng, trợ giúp, Ngô Đình Diệm tổ chức xây dựng đội quân ngụy tay sai gồm 10 sư đoàn chính quy, đồng thời cho giải ngũ những sĩ quan thân Pháp, gạt bỏ những người không ăn cánh. Mỹ - Diệm điều ba trung đoàn Âu - Phi, sáu tiểu đoàn ngụy từ các nơi về Thừa Thiên, Quảng Trị, tập trung đánh phá phong trào cách mạng. Chúng tổ chức thêm 31 đại đội “nghĩa dũng đoàn", "bảo chính đoàn", mở rộng các sân bay Đông Hà, Phú Bài, xây dựng hệ thống hầm hào, công sự phòng thủ nam giới tuyến và vùng đường số 9, tung các toán gián điệp, biệt kích ra Vĩnh Linh, Quảng Bình móc nối với các ổ, nhóm phản động nằm vùng, phá hoại hậu phương ta.
Với mưu đồ sâu xa và những hoạt động trực tiếp của Mỹ - Diệm, vĩ tuyến 17 - giới tuyến quân sự tạm thời đã cắt đôi địa bàn Khu 4. Các tỉnh nam và bắc vĩ tuyến từ đây trở thành nơi đụng đầu trực tiếp giữa lực lượng cách mạng và thế lực phản cách mạng.
Cùng với cả nước bước vào cuộc đấu tranh mới, quân và dân Liên khu 4 đồng thời phải thực hiện cả hai nhiệm vụ mà Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung uang Đảng đã đề ra trong Nghị quyết tháng 9 năm 1954 là: "Đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện hiệp định đình chiến để củng cố hòa bình; ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và phát triển sản xuất, tăng cường xây dựng quân đội nhân dân để củng cố miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam nhằm củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc". Quán triệt nhiệm vụ Đảng đã đề ra, căn cứ tình hình thực tế địa bàn, Liên khu ủy chỉ đạo các tỉnh khẩn trương ổn định đời sống nhân dân, củng cố thế đấu tranh chính trị ở Quảng Trị, Thừa Thiên, kiên quyết đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ.
Vừa lo khôi phục kinh tế, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, Liên khu 4 còn được Trung ương giao nhiệm vụ đón tiếp cán bộ, bộ đội và đồng bào miền Nam tập kết với phương châm "tận tình, chu đáo". Tuy công việc bề bộn, nhưng Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh liên khu đã tổ chức, chỉ đạo chặt chẽ việc đón tiếp, sắp xếp việc làm cho cán bộ, đồng bào miền Nam, coi đó là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của Liên khu trong những ngày đầu hòa bình. Liên khu thành lập ban chỉ đạo, ở các tỉnh có "Phòng miền Nam" và các bộ phận quân nhu, vận tải thường trực ở cửa Hội, Sầm Sơn cùng phối hợp với lực lượng của Bộ đón tiếp chu đáo cán bộ và nhân dân miền Nam tập kết. Đồng bào Vĩnh Linh và các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa đã coi cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết như anh em một nhà, đã "nhường áo, sẻ cơm" giúp đỡ trâu, bò, dụng cụ sản xuất..., để đồng bào nhanh chóng ổn định đời sống. Đồng bào miền Nam tập kết hết sức thông cảm với khó khăn của nhân dân Liên khu 4, đã đồng cam cộng khổ trong mọi công việc, góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định trật tự an ninh. Liên khu đã thành lập 51 tập đoàn sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp cho cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết. Riêng Vĩnh Linh và Hà Tĩnh tiếp nhận 5.157 nhân khẩu về làm ăn, sinh sống ở địa phương. Trong thời gian ngắn, đã có hơn một phần ba số cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết ở địa phận liên khu có một cuộc sống ổn định.
Hậu quả chiến tranh chưa khắc phục được, sản xuất nông nghiệp lại bị thiên tai cuối năm 1954 tàn phá đã làm cho toàn liên khu có hơn 600.000 người bị đói, nghiêm trọng nhất là nhân dân các huyện Kỳ Anh, Can Lộc, Hương Khê (Hà Tĩnh), Nông Cống, Tĩnh Gia (Thanh Hóa), Quảng Trạch (Quảng Bình).
Nhân lúc ta gặp khó khăn, Mỹ - Diệm cấu kết với bọn phản động ở Vương quốc Lào phá hoại ta từ phía tây. Tháng 10 năm 1956, Trần Văn Đôn phó tổng tham mưu trưởng ngụy cùng với Thủ Quang Hoàng quân khu trưởng quân khu 2 bàn mưu với bọn phản động Vương quốc Lào phá hoại miền Bắc, chủ yếu là dọc biên giới Lào - Việt từ vĩ tuyến 17 đến Thanh Hóa.
Lúc này, các tổ chức phản động Việt Nam trước đây ở Lào theo chân Mỹ ngóc đầu dậy hoạt động. Một nhóm phỉ do tên Giáo Lê cầm đầu đóng tại vùng Mường Xải, Mường Pao, Sầm Tớ và tổ chức “Liên bang Thái tự trị" do Lò Khăm Thi cầm đầu, được Mỹ trực tiếp chỉ đạo (trụ sở của chúng đặt ở Bản Ban, gần biên giới Lào - Việt), có nhiệm vụ đào tạo biệt kích, tập hợp phỉ, gián điệp, lôi kéo dân di cư sang Lào. Vùng biên giới từ Thanh Hóa đến Quảng Bình luôn bị chúng phá hoại.
Tháng 9 năm 1955, hai toán gián điệp, biệt kích thâm nhập vào vùng núi Thanh Hóa, Nghệ An, móc nối với bọn phản động cũ, tuyên truyền kích động một số đồng bào vùng Kỳ Sơn (Nghệ An), Quan Hóa (Thanh Hóa) xuyên tạc đường lối của Đảng, dụ dỗ, lôi kéo họ di cư.
Cùng lúc này, bọn phản động nội địa, nổi lên phá hoại. Ở Quảng Bình có "đảng Việt Hưng" do tên Lễ cầm đầu. Huyện Hướng Hóa có "đảng Cù Xuân" gồm những tên phản động thuộc tầng lớp trên của dân tộc Vân Kiều ra đời từ năm 1949 do hai tên Bót Ót, Nhung Nhưa cầm đầu. Các đảng phái phản động này lợi dụng giáo lý, mê hoặc quần chúng, nói xấu chế độ, nói xấu Đảng ta, kích động hằn thù dân tộc.
Đặc biệt, địch ra sức lôi kéo, cưỡng ép đồng bào theo đạo Thiên chúa di cư vào Nam, với ý đồ tạo ra những cuộc bạo loạn chính trị, bổ sung lực lượng cho Diệm, "biến miền Bắc thành một bãi sa mạc để lại cho Việt Minh". Chúng lôi kéo hàng nghìn giáo dân di cư vào Nam và liên tiếp gây ra những vụ bạo loạn ở Nghệ An, Thanh Hóa. | |
|