Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Củng cố tổ chức, mở rộng chi viện và khắc phục hậu quả chiến tranh (1973–1974)

Cuối năm 1973, lực lượng công binh được kiện toàn tổ chức, tăng cường chi viện cho các chiến trường và đẩy mạnh giáo dục chính trị, xây dựng chính quy. Ở miền Nam, hệ thống công binh các mặt trận phát triển vững mạnh, đủ sức hiệp đồng binh chủng; tại Nam Bộ thành lập Bộ Tư lệnh công binh Miền. Ở miền Bắc, công binh tập trung rà phá bom mìn, thủy lôi sau Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, đạt nhiều kết quả nổi bật, góp phần khắc phục hậu quả chiến tranh và chuẩn

Lai Châu03/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Vào cuối năm 1973, trực thuộc Bộ Tư lệnh Công binh có 8 trung đoàn, gồm 3 trung đoàn công trình (229; 279; 299), 2 trung đoàn vượt sông (239, 249), 3 trung đoàn kiến trúc (259, 259A, 289), 2 tiểu đoàn xe - máy (71, 72) bảo đảm công trình ở khu căn cứ và 2 trường.

Đảng ủy Bộ Tư lệnh Công binh đã lãnh đạo các đơn vị tiến hành nhiều đợt sinh hoạt chính trị, nâng cao nhận thức về tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng và quân đội giao cho. Cuộc vận động "Chấp hành kỷ luật, xây dựng nền nếp chính quy" giúp các đơn vị khắc phục hiện tượng tự do, tùy tiện, không nghiêm túc chấp hành kỷ luật do hoàn cảnh chiến đấu phân tán, đóng quân dã ngoại lâu ngày gây ra. Các vụ vi phạm kỷ luật giảm rõ rệt, có nhiều đơn vị không để xảy ra vi phạm kỷ luật nào trong năm 1973.

Chấp hành nghị quyết của Bộ Quốc phòng, tháng 2 năm 1973, Bộ Tư lệnh Công binh chuyển giao Trung đoàn công binh 7 cho Mặt trận Tây Nguyên, Trung đoàn công binh 83 cho Quân khu 5; tiếp đó, chuyển giao Trung đoàn công binh 219 cho Mặt trận Trị - Thiên. Bộ Tư lệnh Công binh còn tổ chức xây dựng cho các quân khu 3 tiểu đoàn và 9 đại đội vượt sông; bổ sung nhiều lái xe, lái máy, thợ sửa chữa cho các chiến trường.

Về trang bị khí tài, Bộ Tư lệnh Công binh chi viện cho các chiến trường 118 xe - máy, 8.314 tấn thuốc nổ, 897 tấn khí tài. Đầu năm 1974, Bộ Tư lệnh Công binh tăng cường cho chiến trường Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ (B2) một tiểu đoàn xe - máy: gồm 315 cán bộ, chiến sĩ và nhiều xe - máy công trình. Kể từ khi bước vào cuộc chiến tranh chống Mỹ, đây là đợt bổ sung lớn nhất.

Trước tình hình mới, trên miền Bắc, các tiểu đoàn công binh đảm bảo giao thông thuộc các quân khu, các tỉnh được giải thể. Các quân khu Tả Ngạn, Hữu Ngạn, Tây Bắc chỉ còn 1 đến 3 tiểu đoàn công binh. Quân khu Việt Bắc còn 2 đại đội. Riêng Quân khu 4 có 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn công binh.

Ở miền Nam, Mặt trận Trị - Thiên có 2 trung đoàn công binh (219, 414), 1 tiểu đoàn vượt sông và 1 tiểu đoàn kiến trúc. Quân khu 5 có 2 trung đoàn công binh, 1 tiểu đoàn vượt sông, 1 tiểu đoàn kiến trúc. Mặt trận Tây Nguyên có 1 trung đoàn công binh (Trung đoàn 7), 1 tiểu đoàn vượt sông, 1 tiểu đoàn làm sở chỉ huy. Mỗi tỉnh ở Tây Nguyên có 3 đến 4 đại đội công binh.

Ở Nam Bộ, tháng 5 năm 1973, Phòng Công binh chuyển thành Bộ Tư lệnh công binh Miền. Đồng chí Nguyễn Văn Thọ được cử làm Tư lệnh. Đồng chí Nguyễn Văn Thọ học môn chỉ huy cùng với tôi tại Học viện Công binh Liên Xô. Đồng chí là một trong những học viên giỏi thời ấy. Đồng chí Võ Minh Triết và Nguyễn Phú Xuyên Khung làm Phó Tư lệnh.

Như vậy, sau nhiều năm xây dựng và chiến đấu, bảo đảm chiến đấu, lực lượng công binh trên chiến trường Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ đã phát triển lớn mạnh có khả năng chiến đấu hiệp đồng binh chủng.

Ở miền Bắc, công việc nặng nề cấp bách là khắc phục hậu quả chiến tranh: rà, phá thủy lôi, bom mìn địch để lại. Phía Hoa Kỳ, theo quy định của Hiệp định Pari, cũng tổ chức một lực lượng lớn trên 4.680 người, do một phó đô đốc (tướng hai sao) chỉ huy mang theo nhiều phương tiện rà, phá thủy lôi hiện đại, nhưng trong 6 tháng (từ tháng 2 đến ngày 20 tháng 8 năm 1973) chỉ làm nổ được 3 quả thủy lôi. Còn lại do bộ đội công binh, dân quân tự vệ và quần chúng nhân dân đã phá hàng nghìn, hàng vạn quả bom, mìn, thủy lôi, từ trường mà địch để lại.

Trong thành tích này, nổi trội có đội phá bom của Bộ Tư lệnh Công binh. Đội là đơn vị duy nhất có máy dò tìm bom hiện đại. Liên tục trong hai năm, đội dò tìm khắp địa bàn Hà Nội, Thái Nguyên, Quảng Ninh và đã gỡ được 251 quả bom từ trường, gần 800 quả bom phá.

Tháng 7 năm 1973, Hội nghị sơ kết công tác rà, phá bom mìn được Binh chủng tổ chức ở Vĩnh Phú, nhằm trao đổi kinh nghiệm bàn biện pháp thúc đẩy công việc nhanh hơn. Đại biểu công binh các quân khu, binh chủng về dự đông đủ. Qua Hội nghị này chúng tôi đã rút ra nhiều kinh nghiệm, nhiều bài học bổ ích và phương hướng công tác sắp tới, đồng thời biểu dương khen thưởng những đơn vị cá nhân xuất sắc.

Cũng xin nói một điều, trong thời gian này, theo yêu cầu của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, tôi còn được giao trực tiếp phụ trách lực lượng công binh thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt (sẽ trình bày ở phần sau); nên mặc dù trên cương vị Tư lệnh Công binh, nhưng tôi cũng không quán xuyến hết mọi công việc. Bù lại, các đồng chí: Chính ủy Chu Thanh Hương (sau là anh Trần Thế Môn); Phó chính ủy: Nguyễn Ích, Nguyễn Huân; Phó tư lệnh: Phạm Cương, Nguyễn Văn Đoan, Đào Hữu Liêu, Phan Kim Bảng, Phạm Văn Diêu... là một tập thể cán bộ vững vàng về mọi mặt; đã giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ trên cương vị của mình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn