Cung Đường Lửa Qua Đèo Đá Đẻo
Cung Đường Lửa Qua Đèo Đá Đẻo
Mùa thu năm 1968, đèo Đá Đẻo (Quảng Bình) nằm trên tuyến đường 15A là một trong những “tọa độ chết” tàn khốc nhất. Nơi đây, đá vôi bị bom Mỹ cày xới nát vụn thành bụi trắng; những mảng đồi trọc lóc, khen khét mùi lưu huỳnh và dấu vết của hàng ngàn tấn bom nổ chậm.
Thành, mươi chín tuổi, là lái xe thuộc Đại đội 11, Binh trạm 14. Anh cầm lái chiếc xe ZIL-157 chở đầy đạn pháo và lương thực tiến vào miền Nam. Trong cabin nham nhở vết mảnh bom, hành trang của Thành chẳng có gì quý giá ngoài bức ảnh chụp chung với cô bạn gái người làng biển Cảnh Dương giắt ngay cạnh bảng điều khiển.
Đêm đó, trời mưa rừng rỉ rả. Đèn pha xe phải bọc vải xô đen, chỉ chừa một khe sáng nhỏ bằng ngón tay chiếu xuống lòng đường ngập bùn thụt. Đúng lúc chiếc ZIL của Thành vừa leo lên đến đỉnh đèo Đá Đẻo thì một tốp máy bay trinh sát "Đầm già" OV-10 phát hiện ra tiếng động cơ. Chúng lập tức thả hàng loạt pháo sáng chói lóa, biến cả cung đèo thành một vùng sáng chập chờn ghê rợn.
Chỉ vài phút sau, tiếng rít xé gió của máy bay cường kích F-4 lao đến. Bom phá dội xuống. Mặt đất chao đảo dữ dội, một phần góc núi sạt lở nhét chặt lấy bánh xe phía sau của chiếc ZIL. Mảnh bom chém đứt lìa kính chắn gió, tạt qua cánh tay trái của Thành. Máu chảy đầm đìa, ướt đẫm tay áo trấn thủ.
Ở phía sau, một chiếc xe khách cùng đoàn bị trúng mảnh pháo nằm bẹp bên mép vực. Thấy xe của Thành bị mắc kẹt, Tiểu đội trưởng công binh trực đường gào lên qua tiếng bom nổ chát chúa: – Thành ơi! Bỏ xe nhảy xuống hầm nhanh! Bom B-52 sắp rải thảm đấy!
Trong cơn đau xé ruột, Thành nhìn qua tấm gương chiếu hậu vỡ vụn. Phía sau anh là hàng chục chiếc xe tải khác đang nối đuôi nhau mắc kẹt. Nếu chiếc ZIL chở đạn này bị trúng bom nổ tung ngay trên đỉnh đèo, cả cung đường sẽ bị tắc nghẽn hoàn toàn, hàng trăm tấn hàng ra tiền tuyến sẽ vĩnh viễn nằm lại.
– Không bỏ xe được! Thông đường cho anh em qua trước! – Thành hét lên.
Anh cắn răng, lấy chiếc khăn quàng cổ quấn chặt vết thương ở tay trái, rồi dùng toàn bộ sức lực của tay phải ghì chặt vô-lăng. Anh nhấn sâu chân ga. Động cơ chiếc ZIL gầm lên dữ dội, khói đen phun ra mù mịt. Bánh xe sắt quay tít, cày xới vào đống đất đá sạt lở.
"Rắc!" – Chiếc xe chồm lên, vượt qua đống đá mục đúng lúc một quả bom phá dội xuống ngay vị trí anh vừa thoát khỏi.
Thành không dừng lại. Dù vết thương hành sốt làm mắt anh mờ đi, anh vẫn điều khiển chiếc xe lướt qua những hố bom còn bốc khói nghi ngút, dùng chính chiếc xe của mình làm "xe dẫn đường" gạt đất đá mở ra một lối đi hẹp sát mép vực cho cả đoàn xe phía sau bám theo.
Đến khi chiếc xe cuối cùng vượt qua đỉnh đèo Đá Đẻo an toàn, chiếc ZIL của Thành mới từ từ dừng lại dưới chân dốc. Khi đồng đội chạy đến mở cửa cabin, họ thấy Thành đã gục xuống vô-lăng vì mất máu, nhưng bàn tay phỏng rộp của anh vẫn ôm khăng khăng lấy cần số.
Thành được cứu sống sau đêm đó. Cung đường qua đèo Đá Đẻo vẫn nát vụn vì bom đạn trong những ngày sau, nhưng những người lính lái xe Trường Sơn năm ấy không bao giờ quên được hình ảnh chiếc ZIL thương tích đầy mình vẫn kiên cường chồm lên trong đêm lửa – một biểu tượng cho chí khí "Xe chưa qua, nhà không tiếc; máu có thể rơi, nhưng đường không thể tắc" của một thế hệ anh hùng.



