Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

CUỘC CHẠY “VIỆT DÃ QUÁI ĐẢN”

Hồi ức tái hiện cuộc hành quân thần tốc của Đại đội 399, Tiểu đoàn 89 (Trung đoàn 36) xuyên rừng Lào trong những ngày giáp Tết năm 1954. Giữa cái lạnh và sự mệt mỏi cùng cực của tuổi 18, các chiến sĩ đã trải qua một trận "tao ngộ chiến" không thể nào quên tại ngã ba Nậm Ngà vào đúng sáng mùng Một Tết Giáp Ngọ. Dù lực lượng chỉ bằng một phần mười địch, quân ta đã chủ động tấn công phủ đầu, khiến Tiểu đoàn ngụy Thái số 1 (1er BAT) hoảng loạn tháo chạy, giải thoát cho hàng chục người dân Phú Thọ bị

Lai Châu03/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày ấy, ngày cuối tháng 1 năm 1954, đơn vị chúng tôi đang giấu mình trong những cánh rừng phía tây Mường Thanh, chuẩn bị cho trận tiến công “tốc chiến tốc thắng” tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Mọi việc sắp hoàn tất cho giờ G nổ súng thì bỗng nhiên, ngày 26 tháng 1, chúng tôi linh cảm có điều gì khác lạ. Buổi chiều, có lệnh thay đổi, bỏ lại tất cả những thứ không cần thiết, trang bị thật gọn nhẹ, khẩn trương chuẩn bị hành quân. Anh em băn khoăn không hiểu vì sao?

Chúng tôi mỗi người một khẩu súng và một cơ số đạn trên vai, thắt cái “ruột tượng” dựng hai ngày gạo rang vào lưng rồi gấp rút lên đường. Xuyên rừng chiều, cả Đại đoàn 308 chia thành hai cánh quân, vượt biên giới sang đất bạn Lào. Tiểu đoàn 89 chúng tôi được “lãnh ấn” tiên phong đi đầu đội hình Trung đoàn 36 tiến về hướng Nậm Bạc - Luang Prabang.

Nửa đêm hôm đó, trong lúc chúng tôi đang bì bõm lội suối gần biên giới thì được tin địch ở đồn tiền tiêu Nga Na Soong trên đất bạn vừa rút chạy. Thế là bắt đầu cuộc truy đuổi, lúc đi, lúc chạy, đơn vị nào khỏe được phép vượt lên trước, đơn vị đi đầu gặp địch là đánh, đơn vị sau nếu không cần yểm trợ chiến đấu thì cứ vượt qua tiến lên phía trước, tiếp tục bám đuổi địch.

Quân địch ở Nga Na Soong rút chạy trước chúng tôi gần 10 tiếng đồng hồ nhưng đến trưa hôm sau - ngày 27 tháng 1 đã bị chúng tôi truy kích suốt đêm đuổi kịp. Chúng không ngờ “quân ta” thần tốc đến thế nên gặp là hoảng loạn, chống cự yếu ớt. Đại đội đi trước nổ súng, địch bỏ chạy tản mác. Đại đội 399 chúng tôi vượt lên dẫn đầu đội hình tiểu đoàn, băng qua hiện trường ngổn ngang chiến lợi phẩm. Đây là một nguồn cung cấp bánh quy, đồ hộp bổ sung vào cái túi lương thực đường trường.

Dù đi thêm hàng trăm cây số đường rừng hoang vắng, chúng tôi không lo lắm vì khẩu phần hai ngày gạo rang vẫn còn bên lưng.

Rừng Lào về mùa khô xơ xác cây lá. Những rừng săng lẻ, rừng khộp, nứa, vầu đại ngàn tiếp nối, nhiều đoạn đường vắt nhiều vô kể, chúng vươn đầu ngọ nguậy dưới chân bước, tua tủa như những bàn chông. Lại có ngày hành quân toàn đồi trọc, hết triền núi này đến triền núi khác, thỉnh thoảng mới gặp con suối với những bản Mèo và những nương lúa, nương thuốc phiện. Nhiều anh em chúng tôi mới lần đầu nhìn thấy loại cây thuôc phiện chết người này với những bông hoa trắng, tím hồng trông thật quyến rũ.

Trải qua tám ngày đêm xuyên rừng vượt núi truy kích địch, các đại đội trong Tiểu đoàn 89 luân phiên nhau dẫn đầu đội hình Trung đoàn, trên đường truy kích đã đụng độ với địch gần mười trận, tiêu diệt, bắt gọn và làm tan rã hàng trăm tên địch.

Đến chiều ngày 2 tháng 2, chúng tôi tới Nậm Bạc. Thật mát mắt khi nhìn thấy màu xanh của lúa trải ra giữa thung lũng phì nhiêu. Có một khu đồn lớn và sân bay địch, xung quanh là những bản làng trù phú san sát những ngôi nhà sàn bên hàng dừa xanh. Một con sông nhỏ uốn lượn bên những thửa ruộng bậc thang. Anh em chúng tôi băng rừng vượt núi, vừa hành quân, vừa tác chiến, đến đây chưa kịp thở thì tiểu đoàn trưởng Nguyễn Liệu chớp thời cơ ra lệnh nổ súng tấn công, địch hốt hoảng rút chạy, bỏ lại nguyên vẹn kho tàng.

Giải phóng xong Nậm Bạc, đại đội 399 nhận ngay lệnh lên đường. Đại đội trưởng Nguyễn Hữu Thành phổ biến nhiệm vụ mới, đốc thúc anh em ăn vội bữa cơm chiều, bổ sung món chiến lợi phẩm lương khô “hảo hạng” rồi lại tiếp tục hành quân.

Rời thung lũng Nậm Bạc, chúng tôi hướng tới Nậm Ngà. Đang đà chiến thắng, cán bộ chiến sĩ háo hức, quên cả mệt nhọc, hăng hái lên đường. Trừ trung đội 1 ở lại Nậm Bạc tham gia thu dọn chiến trường, đại đội chúng tôi còn bảy mươi tay súng. Đi cùng còn có hai cán bộ cấp phó tiểu đoàn 89 và trung đoàn phó Ngô Ngọc Dương, Phó chính ủy trung đoàn Phạm Hồng Cư trực tiếp xuống đốc chiến, luôn có mặt trong đơn vị dẫn đầu.

Trận “tao ngộ chiến” ngã ba Nậm Ngà

Rời khỏi thung lũng Nậm Bạc, trời đã tối mịt. Đường càng đi càng khó, chúng tôi mò mẫm bám theo nhau. Đom đóm lập lòe bay trên đội hình hành quân như trêu đùa, anh em quờ tay bắt, xiết lên ba lô, hoặc cài sẵn miếng gỗ mục phát sáng để nhận ra nhau. Càng về khuya, đôi mắt đã díp lại mà đôi chân cứ bước như một cái máy; ngại nhất là lúc đội hình dồn lại, người đi trước mỗi khi di chuyển chủ động lay gọi người đi sau. Cái tuổi 18 của chúng tôi được thử sức.

Nửa đêm có lệnh dừng lại. Hai trung đội của Hoàng Như Phan và Phạm Thế Trung đi trước và sau đội hình cắt cử người canh gác, còn chúng tôi đặt ba lô xuống, lựa thế là nằm ngủ thiếp đi ngay; đâu ngờ rằng có một cánh quân địch đông tới sáu bảy trăm tên trên đường tháo chạy từ Mường Sài về Nậm Ngà, đang trú quân gần đây, hướng hành quân của chúng đâm thẳng vào đội hình chúng tôi đang nằm. Mãi đến sáng ra nhìn lại, tôi mới biết đây là một ngã ba, nơi con đường chúng tôi đi men theo một con suối khá rộng gặp nhánh đường rừng từ Mường Sài tới, hợp lại đi thẳng về hướng Nậm Ngà. Mặt đường lồi lõm vết chân trâu, vậy mà đêm qua đặt lưng xuống chúng tôi đã đánh một giấc ngon lành.

Khi chúng tôi được báo thức thì mặt trời đã ló dạng trên cao nhưng sương mù vẫn còn phủ trắng, cách mười thước không nhìn rõ mặt người. Tôi vươn vai đứng lên mà chân như khuỵu xuống, gắng gượng lò dò từng bước, một lát sau mới quen dần. Xuống suối tôi vục mặt trong lòng nước mát, rửa các kẽ chân suốt ngày ngâm trong đôi giày Ba-ta sũng nước đã lở loét trắng bệch.

Ít phút sau, có lệnh chuẩn bị hành quân. Tôi vừa choàng khẩu tiểu liên K50 lên người đã giật nảy mình khi nghe tiếng đạn K50 nổ vang từ phía trung đội 2 và tiếng hét “có địch”. Bất giác chúng tôi như một phản ứng dây chuyền, tất cả đều kêu to “có địch” và cắt rừng ào ạt lao về phía có súng. Đang mong gặp địch nên anh em rất phấn khích, các loại súng thi nhau nhả đạn. Địch bắn trả, đạn đan chéo trên đầu, cành lá gãy đổ, những thân cây bị xé toạc, vung vãi. Một trận “tao ngộ” diễn ra ác liệt. Thì ra tiểu đoàn ngụy Thái số 1 (1er BAT) từ phía Mường Sài rút về Nậm Ngà, tối qua chúng dừng lại trú quân cách đây chừng một cây số. Sáng ra địch hành quân sớm, tổ “xích hầu” đi đầu sục sạo với trung, đại liên yểm trợ vừa qua khỏi khúc quanh bìa rừng thì vấp phải trạm cảnh giới của ta. Tiểu đội phó Thúy, người đứng gác cuối cùng vừa được lệnh rút về hành quân thì trông thấy địch. Giây phút bàng hoàng ngơ ngác nhìn nhau, Thúy định thần trước, anh kêu lên “có địch” rồi quét luôn một loạt K50 quật ngã chúng, giành thế chủ động cho ta. Địch bị tấn công phủ đầu quyết liệt, hốt hoảng tưởng sa vào trận địa phục kích, lúng túng bắn trả, yểm trợ nhau tháo chạy, tan vỡ từng mảng, chỉ còn không đầy hai trăm tên lui về chỗ trú quân đêm qua, lợi dụng ít công sự sẵn có, chúng dừng lại để thu thập tàn quân. Lực lượng của ta vốn mỏng, chỉ bằng một phần mười lực lượng địch, lại rải rác tác chiến đuổi địch suốt trên một cây số, đến nay chỉ còn khoảng 40 tay súng, cũng không thể tiến thêm được nữa. Hai bên chiếm hai ngọn đồi cách nhau chừng hơn trăm mét, ở giữa là một cái lõm hình yên ngựa.

Tôi đôn đốc anh em đào công sự thì phó chính ủy trung đoàn Hồng Cư đến hạ lệnh tôi quay về phía sau thay chính trị viên đại đội Tấn để giải quyết “hậu chiến”. Quãng đường dài hơn một cây số ngổn ngang súng đạn của địch tháo chạy vứt bỏ và hàng trăm tên địch tan tác còn luẩn quẩn đâu đây. Khẩu K50 của tôi đã bắn nhiều nên tôi nhặt thêm một khẩu tiểu liên Thompson còn đầy đạn choàng lên người. Càng gần tới ngã ba nơi chạm trán giữa ta và địch, quang cảnh chiến trường còn bề bộn ngổn ngang, càng thấy nhiều xác địch rải rác đó đây. Một tên da trắng bị trúng đạn vào đầu, nằm sấp ven đường, đã bị thương gần một tiếng đồng hồ mà vẫn còn sống, rên rỉ. Tại khúc quanh đường rừng nơi bắt đầu trận đánh, một tên da trắng khác bị thương trúng chân, chắc là sĩ quan chỉ huy đơn vị đi đầu đã lột lon, bỏ áo cởi trần ngồi ngav giữa đường đi. Nhìn cái thế ngồi của nó khi trúng đạn, mặt quay về phía quân ta, cái bộ ngực lông lá và nhất là cặp mắt xanh lè cứ giương lên nhìn, tôi đột ngột giận sôi lên nhìn vào mắt nó, bắt dẹp vào bên đường, quên bẵng đi nó đang bị thương. Đáng ra nói “Va-tăng” thì tôi buột miệng nói “A-lê” rồi chỉ tay vào đường nói tiếp “ici”, vẻ mặt tôi có vẻ “dữ” nên tôi thấy nó tái mặt đi và lê lết vào ngay chỗ tay tôi chỉ.

Gặp anh Tấn đang tất bật chỉ huy thu dọn chiến trường, tôi nhận bàn giao và tiếp tục công việc của anh, với một tiểu đội trong tay, phải thu gom chăm sóc hơn chục thương binh, tử sĩ của ta, tiếp tục truy bắt, cai quản đám đông tù binh địch đã hơn sáu mươi tên. Ngoài ra, còn hơn 40 người dân tỉnh Phú Thọ bị địch càn quét bắt làm tù binh người Bắc Kỳ (chúng gọi họ là PMT - (Prisonniers Militaires Tonkinois), đưa sang Lào, buộc đi theo tiểu đoàn 1er BAT làm phu khuân vác. Tôi động viên và sử dụng ngay họ vào việc tỏa đi khắp rừng tìm kiếm cho bằng hết thương binh, tử sĩ của ta có thể còn sót lại.

Lúc này, xảy ra một chuyện: khi đồng chí Dược, y tá đại đội, bảo hai bác PMT đã đứng tuổi, trông hiền lành đứng đắn, khiêng chuyển một cáng thương binh của ta, tôi thấy hai bác này lại tỏ ra trù trừ ngần ngại. Bực mình, tôi trách mắng thì hai bác òa lên khóc. Họ trật áo cho tôi xem, hai vai của họ xưng tấy lên đỏ hỏn như hai khối u nhọt đọng máu sắp vỡ. Hai bác kể: bọn địch coi PMT như những con lừa, con ngựa, trút mọi thứ bắt mang vác. Hôm qua có mấy PMT kiệt sức quỵ xuống bị chúng bắn bỏ xác bên đường. Hai bác nghẹn ngào nói trong nước mắt: “Đêm qua chúng em trằn trọc không ngủ được, đoán chắc rằng hôm nay sẽ là ngày cuối của cuộc đời vì không thể cố gắng kéo lê được thân xác “ngựa thồ” thêm nữa. Đến giờ giao thừa, mọi người ngồi dậy ôm nhau khóc, trăn trối những lời sau cùng để ai còn sống sót về kể lại cho gia đình vợ con quê nhà. May nhờ ơn cứu tử của bộ đội...”

“Giao thừa” - “Giờ giao thừa”... nghe hai bác PMT nói, chúng tôi mới biết đêm qua là đêm cuối cùng của năm Quý Tỵ, trận đánh sáng nay đúng vào sáng mùng một Tết Giáp Ngọ, một trận đánh thắng to, đón mùa xuân mới. Trận đánh đầu xuân này được Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét trong cuốn “Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử” là “trận đánh lớn nhất trên đường truy kích” trên đất bạn Lào mùa xuân năm 1954.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn