Cuộc chiến bảo vệ thành cổ Quảng Trị 50 năm trước
Năm 1972, Mỹ và quân lực Việt Nam Cộng hòa rải 328.000 tấn bom đạn nhằm tái chiếm thành cổ Quảng Trị trong 12 ngày, nhưng đã phải kéo dài tới 81 ngày.
Sau hiệp định Geneve ký kết ngày 20/7/1954, vĩ tuyến 17 trở thành ranh giới chia cắt tạm thời hai miền Nam - Bắc. Một phần của Quảng Trị từ sông Bến Hải trở ra Bắc được giải phóng, phía Nam sông nằm dưới quyền kiểm soát của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Thị xã Quảng Trị rộng gần 3 km2 biến thành trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế - xã hội và được chính quyền Việt Nam Cộng hòa coi là tuyến phòng thủ vững chắc nhất ở miền Nam Việt Nam.
Tuy nhiên, chỉ sau hai đợt tấn công trong chiến dịch xuân hè năm 1972, quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã chọc thủng hệ thống phòng ngự kiên cố nhất và giành được hoàn toàn tỉnh Quảng Trị vào ngày 1/5/1972.
Bị mất căn cứ chiến lược tại Quảng Trị và nguy cơ mất tiếp tỉnh Thừa Thiên, đổ vỡ kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh, Mỹ bổ sung khí tài để quân đội Việt Nam Cộng hòa phản công chiếm lại Quảng Trị, đặc biệt là khu thành cổ.
Nằm sát sông Thạch Hãn, thành cổ Quảng Trị được xây dựng từ thời vua Gia Long, có hình vuông, mỗi cạnh 500 m, bao quanh là hào nước rộng 18 m, sâu đến 3 m với mục đích phòng thủ. Thành được bao bọc bởi nhiều trận địa hỏa lực, trại lính, lắp tường hộp bằng sắt dày đến một mét và đắp nhiều bao cát, đất, hàng rào dây thép gai để trở thành lô cốt, ụ súng, chiến hào kiên cố.
Theo thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, nguyên Phó tư lệnh Quân khu 2, lúc đó là Trung đoàn phó Trung đoàn 9 Sư đoàn 304, bên cạnh ý nghĩa về địa lý, quân sự, thành cổ Quảng Trị có vai trò quan trọng về mặt chính trị, ngoại giao, là biểu tượng cho ý chí của mỗi bên. Mọi thành bại trên chiến trường này sẽ tác động trực tiếp tới vị thế các bên trong cuộc đàm phán ở Paris.
"Ta giữ được thành cổ càng lâu, lợi thế phái đoàn ngoại giao của ta tại Hội nghị Paris càng lớn. Mỹ muốn sớm cắm được cờ ở thành cổ để ép ta ký hiệp ước với điều khoản có lợi cho họ, nhưng ta không để điều đó xảy ra", tướng Huy nói, nhấn mạnh đây chính là yếu tố khiến cuộc chiến bảo vệ thành cổ Quảng Trị khốc liệt và kéo dài gần 3 tháng.Sáng 28/6/1972, chính quyền Việt Nam Cộng hòa với sự hậu thuẫn của Mỹ tổ chức các cuộc phản công mang mật danh "Lam Sơn 72" trên quy mô lớn để tái chiếm Quảng Trị, bắt đầu 81 ngày đêm bắn phá khu vực thành cổ.
Tổng lực lượng đánh chiếm Quảng Trị lúc đó gồm 13 trung đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn pháo binh, 5 thiết đoàn xe tăng và nhiều đơn vị công binh, không quân, hải quân. Tháng 6/1972, tính riêng máy bay B52 xuất kích trung bình 135 lần/ngày và có thể lên 200 lần/ngày. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (Bộ Quốc phòng) đánh giá đây là lần chi viện hỏa lực lớn nhất của Mỹ trong một chiến dịch.
Quân giải phóng bố trí Sư đoàn 308 phụ trách khu vực bắc sông Mỹ Chánh, chặn đà tiến công của đối phương hướng quốc lộ 1. Sư đoàn 304 và một tiểu đoàn đặc công tiến công tiêu diệt đối phương ở Nam sông Mỹ Chánh. Sư đoàn 320B cùng các tiểu đoàn địa phương ở hướng Đông có nhiệm vụ tiêu hao, ngăn chặn quân Việt Nam Cộng hòa từ Thanh Hương, Mỹ Chánh tiến theo đường 68 và từ biển đổ bộ vào, bảo vệ huyện Hải Lăng.
Trung đoàn 18 làm lực lượng dự bị chiến dịch, đứng chân ở Quảng Lương, Văn Trường, sẵn sàng đánh ở nam Cửa Việt. Một trung đoàn, một tiểu đoàn bộ đội địa phương và ba tiểu đoàn phòng không có nhiệm vụ bảo vệ thị xã Quảng Trị - La Vang - Ái Tử. Toàn bộ dân cư thị xã và các xã phía bắc được sơ tán ra khỏi vùng chiến sự, chỉ còn lại dân quân, du kích, bộ đội.
Theo tướng Nguyễn Đức Huy, quân giải phóng miền Nam Việt Nam không hề thua kém khi so sánh bộ binh, song về hỏa lực thì kém xa. Thậm chí, quân giải phóng còn bị cắt đường chi viện do hậu phương liên tục bị bắn phá. Trong khi đó quân lực Việt Nam Cộng hòa vượt trội do được hỗ trợ không quân, pháo hạm.Chốt chặn quân Việt Nam Cộng hòa ở tuyến đầu của mặt trận thành cổ - ngã ba Long Hưng, đại tá Vũ Trung Thướng (nay đã 78 tuổi, khi đó là Chính trị viên Đại đội 5, Trung đoàn 48, Sư đoàn 320), kể khu vực này nằm trên trục quốc lộ 1, thuộc làng Long Hưng, xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, là chốt chặn đầu tiên khi hai bên giáp mặt. Bên nào chiếm được Long Hưng sẽ làm chủ hướng tiến công vào thị xã Quảng Trị từ hướng nam và đông nam.
"Nhiệm vụ của chúng tôi là đánh địch từ xa, không cho địch qua Long Hưng để đồng đội bên trong thành cổ Quảng Trị có thời gian chuẩn bị cho các trận chiến", đại tá Thướng kể.
Trong 81 ngày đêm bảo vệ thành cổ, ông Thướng nói "không có ngày nào bình yên". Tiếng bom đạn nổ suốt ngày đêm, hết bom từ máy bay B52 rải thảm đến pháo từ Hạm đội 7 ở ngoài biển, bom tọa độ, pháo bầy 106,7 mm từ phía nam xả vào. Nhà cửa tan nát, cây cối bị phạt phăng, "đứng nhìn ra xa hàng chục km không có gì vướng tầm mắt".
Những người lính ở thành cổ nhặt nhạnh các mảnh gỗ, tôn từ nhà cửa đổ nát của người dân, rồi đào sâu xuống đất 2 m, gia cố tầng hầm 1,2 m, lấp đất lên rồi làm công sự ở bên trên, cao đến ngang ngực để phòng ngự. Khi có pháo, tất cả rút xuống hầm trú ẩn, ngớt bom đạn, các chiến sĩ lại ngoi lên chiến đấu.



