Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Cuộc chiến đấu ở phía trước

Lịch sử đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và các thế lực thù địch dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh của dân tộc ta đã đi vào sử sách như những mốc son chói lọi, hào hùng. Tinh thần bất diệt vì chính nghĩa, vì độc lập, tự do của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta không những được ghi lại trên các kênh phương tiện thông tin đại chúng như sách, báo, tạp chí, truyền hình... mà còn được khắc họa trong ký ức của hàng triệu người dân và những người đã trực tiếp vào sinh ra tử trên các

Lai Châu03/07/2026trung tướng Trần Phi Hổ (xã nậm mạ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Chương I

QUÊ HƯƠNG VÀ THỜI THƠ ẤU
(1953-1969)

Tôi sinh ngày 16 tháng 3 năm 1953, khi quê hương, đất nước đang bước vào giai đoạn cuối của chiến dịch Tổng tiến công kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tại xã An Bình Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Được sự đồng ý của ông bà ngoại, ba má đặt tên tôi là Lê Đức Quý, mang họ bên ngoại vì ông bà nội tôi mất sớm, ba má rất quý ông bà ngoại; hơn nữa ông bà ngoại rất thương quý tôi, là một trong những đứa cháu ông bà thương yêu, tin cậy.

Lớn lên trên mảnh đất Trần Phán anh hùng, thuộc huyện Đầm Dơi, Cà Mau. Khi vào du kích xã, được lãnh đạo, chỉ huy góp ý, tôi đổi lại tên là Trần Lê Quý cho đúng với tổ tông, dòng họ đã sinh ra mình (họ Trần), tuy vậy tôi vẫn giữ lại chữ “Lê” làm tên đệm, như muốn ghi lại tình cảm, mối quan hệ bang giao sâu đậm của hai dòng họ lớn Trần - Lê đã làm nền vững chắc tạo dựng tình cảm hạnh phúc cho ba má tôi nên vợ chồng. Đối với tôi, đây cũng là việc lưu giữ một kỷ niệm đẹp với bên ngoại trong những năm tháng vất vả đầu đời.

Tôi được sinh ra, nuôi dưỡng, giáo dục và trưởng thành trong hai gia đình nội, ngoại có truyền thống cách mạng. Ông nội tôi họ Trần, Trần Văn Nhơn, lấy bà nội tôi họ Nguyễn, Nguyễn Thị Giang, quê ở xóm Giữa, Cầu Ngang, Trà Vinh. Hai ông bà lấy nhau sinh được ba người con, chị hai của ba bị bệnh và mất lúc nhỏ, ba tôi, Trần Tư Hiện, là con trai thứ hai, em trai của ba khi nhỏ bị thất lạc trong chiến tranh; sau giải phóng (1975) tôi và gia đình nhiều lần cất công đi tìm, song không có kết quả gì. Năm ba tôi 14 tuổi, ông nội tôi mất. Gia cảnh mất đi người đàn ông trụ cột, làng xã, xóm ấp lại đang thời kỳ chiến tranh loạn lạc, không biết bấu bíu vào ai, cuối cùng bà nội tôi quyết định: Bà và ba tôi sang nương tựa vào ông cậu, em trai của bà.

Ông cậu sinh được 10 người con, hầu hết đều tham gia kháng chiến, người đi bộ đội, người tham gia phong trào cách mạng của địa phương. Con thứ hai của cậu đi bộ đội ở Trung đoàn 1 chủ lực Khu, con thứ sáu là cán bộ xã đã hi sinh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, con thứ bảy (Tám Lời) đi bộ đội làm Chính trị viên Đại đội 2 - Tiểu đoàn 309, hi sinh trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, con thứ mười đi bộ đội tỉnh, là thương binh mù cả hai mắt. Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, con đông, thu nhập thấp, song gia đình ông cậu thực sự là nơi ấm cúng nhất, là chỗ dựa vững chắc cả về vật chất và tinh thần cho bà nội và ba tôi nương tựa trong hoàn cảnh khó khăn, loạn lạc.

Năm 16 tuổi, được các chú, các bác dìu dắt, ba tôi tạm biệt bà nội đi làm cách mạng, được kết nạp Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, ông công tác ở Ban Binh vận R, sau khi ổn định công tác, giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ba tôi được các chú, các bác ở Ban Binh vận Miền cho về phép xây dựng gia đình với má tôi (Lê Thị Dung). Ba má tôi sinh được 10 người con, chị hai tôi là Trần Kim Loan, chị tham gia cách mạng thời chống Mỹ, cứu nước, làm công tác Đoàn (Phân đoàn trưởng); tôi là con thứ hai trong gia đình (Lê Đức Quý, Trần Lê Quý), dưới tôi còn có tám em trai và gái. Em sát tôi là Trần Phi Hùng, từng là Xã đội trưởng xã Trần Phán vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, sau đó chuyển về đại đội địa phương quân của huyện Đầm Dơi; kế đến là Trần Phi Dũng đi bộ đội ở Sư đoàn bộ binh 4, tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ chiến đấu giúp bạn ở Campuchia trên địa bàn tỉnh Cô Công; các em còn lại công tác và làm ăn sinh sống tại địa phương.

Trong những năm chiến tranh, trước sự mua chuộc, đe dọa, đàn áp, truy bức của chủ nghĩa thực dân mới; xã hội miền Nam bị đảo lộn, phân hóa thành nhiều lực lượng. Một bộ phận tham gia ngụy quân, ngụy quyền, cầm súng làm tay sai cho Mỹ, phản bội con đường cách mạng của dân tộc, của đất nước. Còn lại phần đông nhân dân miền Nam dù phải sống dưới chế độ phát xít của Mỹ - ngụy vẫn một lòng một dạ hướng về Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tích cực đấu tranh giành độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc. Rất may, cả 10 chị em tôi được sống trong địa bàn căn cứ cách mạng, được ông bà ngoại và ba tôi đều là những chiến sĩ cách mạng, đảng viên cộng sản nuôi dưỡng dạy bảo, do vậy không một ai làm tay sai cho địch.

Gia đình bên ngoại tỏi, ông ngoại (Lê Văn Quảng) tham gia cách mạng, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ chống thực dân Pháp. Ông lấy bà ngoại (Nguyễn Thị Tốt) là cơ sở cách mạng. Khi ông hoạt động vận động cách mạng ở địa phương, gia đình bà là cơ sở đùm bọc, nuôi giấu, cho chở, bảo vệ ông. Quá trình hoạt động tại đây, ông tích cực tuyên truyền giác ngộ bà trở thành một cơ sở cách mạng tin cậy. Bà vừa nuôi giấu cán bộ, vừa tham gia và hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ ông giao. Cảm phục, tin cậy tính cách, chí hướng của nhau, hai ông bà đã nên vợ nên chồng trong sự nhất trí cao của anh em đồng chí, đồng đội và hai gia đình thân tộc.

Hai ông bà cùng sinh được 10 người con, má tôi (Lê Thị Dung) là con thứ ba (theo cách gọi của Nam Bộ). Cũng như gia đình bên nội, cà 10 người con của ông bà ngoại lớn lên không ai bị bắt đi làm tay sai cho địch, nhiều cậu mợ tham gia và trưởng thành cùng kháng chiến, như cậu Lê Văn Thành (Tư Thành) là cán bộ, Chính trị viên phó Tiểu đoàn 306 (nay là Tiểu đoàn 1 - Trung đoàn 1 - Sư đoàn 330); cậu Lê Văn Quang - cán bộ cách mạng hoạt động ở địa phương, là liệt sĩ (tôi sẽ kể vào đoạn sau về cuộc đời và cái chết của cậu). một trong sự kiện sâu sắc tác động mạnh đến suy nghĩ, tình cảm và chí hướng của tôi, quyết định con đường đi theo kháng chiến của tôi; cậu Lê Văn Tân (Bảy Tân), đảng viên thời chống Mỹ, cứu nước; dì Lê Thị Kiểu (Dì Tám) là cơ sở cách mạng; cậu Lê Văn Quân là chiến sĩ du kích xã Trần Phán anh hùng, cậu chiến đấu dũng cảm, bị thương vào thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Cuộc chiến đấu ở phía trước - trung tướng Trần Phi Hổ« Trả lời #4 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2022, 08:01:41 am »
Do ông bà nội mất sớm, ba lại thường xuyên vắng nhà đi hoạt động cách mạng, má và các chị em tôi thường xuyên ở bên ngoại, gắn bó với ông bà ngoại và các cậu, các dì suốt quá trình từ tuổi ấu thơ đến lúc trưởng thành, cho đến hôm nay khi đã đi hết cuộc đời quân ngũ, nhìn lại mình, tôi phải ghi nhận tình cảm, tính cách, nhận thức của tôi được hình thành, nuôi dưỡng bồi đắp bắt đầu từ môi trường bên ngoại. Cùng với má, ông bà ngoại, cậu Lê Văn Quang (Năm Quang) không chỉ giành cho tôi sự yêu thương, đùm bọc, tin cậy của những người thân tộc, mà còn là những tấm gương để lại trong tôi những dấu ấn sâu đậm đầu đời, quyết định con đường tham gia kháng chiến và những năm tháng phục vụ cách mạng sau này.

Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vào giai đoạn cuối của chiến lược “chiến tranh đơn phương” (1958-1960). Trước tội ác dã man, tàn bạo, cuồng sát của Mỹ - Diệm, trong các năm 1958-1959, để giữ gìn lực lượng, Trung ương có chủ trương thực hiện giải pháp “điều lắng” lực lượng cách mạng ở miền Nam, chuyển cán bộ, đảng viên từ địa phương này sang địa phương khác, từ trên xuống cơ sở, từ cơ sở lên R (Xứ ủy) để che giấu tung tích quá trình hoạt động cách mạng, tránh bị địch phát hiện.

Thời điểm này, địa bàn Khu 8 và Khu 9 không thể chịu được hành động và âm mưu đàn áp, bắt bớ, truy sát dã man, tàn bạo của kẻ thù. Trước đòi hỏi của tình hình, để đáp ứng một phần nguyện vọng thiết tha, cháy bỏng của quần chúng, nhiều cấp ủy đảng ở các tỉnh đã tổ chức các đội vũ trang tuyên truyền nhằm diệt ác trừ gian, tạo điều kiện cho quần chúng nới lỏng ách kìm kẹp, đồng thời làm cho bọn tề điệp ác ôn ở miền Trung và miền Tây Nam Bộ phải co lại. Tôi nghe ba kể lại, phong trào này vướng với chủ trương của trên (chưa cho đấu tranh vũ trang), song được quần chúng hả lòng hả dạ, ủng hộ đồng tình. Lợi dụng chủ trương này của cấp ủy (tỉnh ủy), nhiều địa phương chỉ đạo, lãnh đạo không chặt chẽ, kiên quyết, nên đã xảy ra hiện tượng diệt ác ôn tràn lan, manh động, bộc lộ lực lượng; có địa phương địch tập trung lực lượng bao vây tiêu diệt, xóa sạch cơ sở cách mạng và đã phải trả giá bằng sự hi sinh của nhiều đồng bào, đồng chí.

Trước tình hình trên, thực hiện chủ trương của Trung ương, Xứ ủy đã quán triệt, triển khai kế hoạch “điều lắng” cán bộ, đảng viên, ở miền Tây Nam Bộ, Khu ủy Khu 9 đã điều lắng 2.751 đảng viên(1). Kế hoạch “điều lắng” của Khu ủy Khu 9 không chỉ thực hiện giai đoạn trước Đồng Khởi mà sau Đồng Khởi năm 1960 vẫn tiếp tục triển khai. Nằm trong số đó, năm 1960, sau Đồng Khởi, ông ngoại tôi (Lê Văn Quảng) bị lộ ở địa bàn Ba Tri, Bến Tre, địch truy nã ráo riết vì tội làm “Cộng sản”. Được tổ chức phân công, ông đã đưa toàn bộ gia đình bên ngoại và gia đình tôi vào “điều lắng” ở U Minh (Cà Mau). Năm ấy tôi vừa tròn 7 tuổi, cái tuổi thơ này hôm nay bắt đầu vào lớp 1 của hệ phổ thông tiểu học; còn trước đó, con cháu của chúng ta đã được chăm sóc, dạy dỗ trong các lớp mầm, lớp lá, chồi ở các trường mầm non. Với tôi, ở thời điểm đó cũng được dăm ba chữ mà ông bà ngoại dạy cho, má tôi cũng không có điều kiện dạy chữ cho tôi nhiều vì suốt ngày phải “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, lao động ở ngoài đồng lo cái ăn, cái mặc cho một đàn con nheo nhóc khi ba vắng nhà đi kháng chiến. Chuyện đi, ở, ông ngoại không cho ai biết, ngoại trừ má, bà ngoại và tôi. Tôi đành phải chia tay đám bạn nhỏ thời ấu thơ một cách lặng lẽ vì phải bảo đảm yếu tố bí mật của nhiệm vụ “điều lắng”, ông bà ngoại và má tôi trước ngày lên đường hạn chế tôi gặp gỡ bạn bè trang lứa; song mỗi khi có điều kiện gặp mấy thằng bạn thân, thấy tôi không vui vẻ, sôi nổi và hăng hái như những lần trước, chúng nó tưởng gia đình có chuyện gì quay lại tìm hiểu, động viên tôi rất nhiều. Nhớ lời ngoại dặn, tôi không nói nhiều, việc chia tay với bạn bè trang lúa ở miền quê đã sinh ra mình rất lặng lẽ, âm thầm, song nó chất chứa nhiều kỷ niệm đầu đời sâu nặng không thể nào quên.

Gia đình ông bà ngoại và má tôi chuyển đến cư ngụ ở xã Trần Phán, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Tại đây, được sự giúp đỡ của chính quyền và bà con, cô bác trong vùng căn cứ địa kháng chiến nổi tiếng này, gia đình ngoại và gia đình tôi đã nhanh chóng có chỗ ăn, chỗ ở, có đất làm nhà, làm ruộng và sớm ổn định cuộc sống. Biết tin vợ và các con được ông bà ngoại đưa về cư ngụ ở Đầm Dơi, Cà Mau, theo nguyện vọng của ba, Ban Dân vận của Xử ủy đã nhất trí “điều lắng” ba về Ban Dân vận tỉnh Cà Mau. Từ đó, gia đình tôi sau bao nhiêu năm xa cách nay được đoàn tụ tại căn cứ địa U Minh, trên mảnh đất căn cứ địa với những làng rừng nổi tiếng giữa vòng vây tầng tầng lớp lớp của Mỹ - ngụy.

Ở cái tuổi thiếu nhi (7 tuổi), cái tuổi còn đòi ăn, đòi mặc, vô tư, lo nghĩ chưa tới này, chị em tôi rất náo nức được đến với một vùng đất mới, không biết rằng vùng đất ấy (Cà Mau) lại là nơi mình được đùm bọc, nuôi nấng, dạy dỗ nên người và trưởng thành trong muôn vàn khó khăn, thử thách sau này. Sống, trưởng thành, kiếm miếng cơm manh áo đã phải lao động cật lực, huống hồ lại bị cuộc chiến tranh khốc liệt nhất, dã man nhất, ngày đêm mang đến sự bất an về tài sản, ruộng vườn, sinh mạng của bản thân, gia đình và quê hương thì thử thách ấy càng tăng lên bội phần.

(1) Ban Biên soạn lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến: Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến, Tập 2 (1955 - 1969), Nxb. Chính trị quốc gia, 2010, tr. 148.

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Cuộc chiến đấu ở phía trước - trung tướng Trần Phi Hổ« Trả lời #5 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2022, 08:03:44 am »
Cà Mau là một tỉnh ở cực Nam của Tổ quốc, một thành viên trong gia đình các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Cà Mau tận cùng của Tổ quốc (nếu theo cách gọi của một số văn nghệ sĩ là mảnh đất cuối trời cực Nam của Tổ quốc) một bức tranh thiên nhiên hài hòa với rừng tràm, rừng đước bạt ngàn, với hệ thống sông ngòi chằng chịt, với biển cả mênh mông nhiều sản vật phong phú và quý hiếm. Sự gặp gỡ tương tác giữa hai dòng hải lưu của Biển Đông và vịnh Thái Lan cùng với các cửa sông lớn gặp nhau ở mũi Cà Mau làm cho một khối lượng lớn phù sa theo sông Cửu Long tích tụ về đây bồi đắp cho đất mũi mỗi năm vươn dài ra biển hàng chục mét. Vì vậy, khi giới thiệu về lịch sử, truyền thống của mảnh đất này, Nhà thơ Xuân Diệu, trong bài thơ Mũi Cà Mau đã viết:

“Mũi Cà Mau: Mỏm đất tươi non
Mấy năm trời lấn luôn ra biển
Phù sa vạn dặm tới đây tuôn
Lắng lại và chân người bước đến
Tổ quốc tôi như một con tàu
Mũi thuyền ta đó - mũi Cà Mau...”.


Trong cuộc trường chinh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hàng ngàn năm của dân tộc ta, nhất là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước, mỗi địa phương, mỗi vùng đất của Tổ quốc đều có những đóng góp to lớn, xuất sắc vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ độc lập, thống nhất Tổ quốc. Mỗi địa phương do điều kiện địa lý, truyền thống văn hóa và cách mạng đặc thù đã có những đóng góp và vai trò, ý nghĩa độc đáo riêng, góp sức tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả nước, cả dân tộc để chiến thắng mọi kẻ thù. Với vị trí là “mũi của một con tàu”, Cà Mau cùng với cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng đã phát huy cao nhất truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí cách mạng kiên cường, góp phần đưa con thuyền cách mạng Việt Nam đạp qua sóng to gió cả đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, cập bến vinh quang.

Người dân trên vùng đất Cà Mau vốn mang trong mình truyền thống anh hùng, cần cù, thông minh, sáng tạo của ông cha. Những giá trị truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng luôn được kế thừa, phát huy từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhất là khi Đảng ta ra đời, có bước phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn và sâu sắc hơn. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, khi bị thực dân Pháp dìm trong biển máu, ngày 23 tháng 11 năm 1940 tại Cà Mau, dưới sự lãnh đạo của đồng chí Phan Ngọc Hiển, cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai đã giành thắng lợi, nghĩa quân chiếm được đảo và lấy được súng. Thắng lợi cuộc khởi nghĩa và sự hì sinh anh dũng của các chiến sĩ không chỉ nói lên lòng yêu nước, ý chí cách mạng kiên cường của quân dân Cà Mau, đồng thời Hòn Khoai đã viết lên những trang sử hào hùng, mãi mãi là niềm tự hào của mỗi người dân Cà Mau, Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay và mai sau. Không chỉ sáng tạo trong khẩn hoang, dựng làng lập ấp, quân dân Cà Mau còn sáng tạo ra nhiều vũ khí và xây dựng nhiều cách đánh độc đáo, giành những chiến công vẻ vang, làm nức lòng đồng bào và chiến sĩ cả nước trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Với địa hình hiểm trở, được rừng tràm, rừng đước bao bọc trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước, cùng với Đồng Tháp Mười, U Minh đã trở thành căn cứ địa kháng chiến của “Nam Bộ thành đồng”, là trung tâm xây dựng, phát triển lực lượng, là đầu não trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo phong trào kháng chiến ở Nam Bộ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng với Nam Bộ, quân dân Cà Mau đã lập nhiều chiến công xuất sắc. Tiêu biểu là trong kháng chiến chống thực dân Pháp sáng tạo ra thủy lôi chiến, tổ chức diệt tàu chiến Pháp ở Mây Dốc - Vàm Đình năm 1946, đắp cản ngăn sông ở Mương Điều năm 1947...; trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân dân Cà Mau đã xây dựng và tổ chức những làng rừng (1959-1960), chiến thắng Cái Nước, Đầm Dơi, Chà Là năm 1963,...

Biển rộng có nhiều đảo và hải đảo. Bờ biển dài với ba mặt giáp biển cùng với hệ thống sông, kinh(1), rạch chằng chịt, có nhiều cửa sông lớn đổ ra biển như Cửa Lớn, Ông Đốc, Đầm Dơi, Đầm Chim, Trèm Trẹm... tạo nên hệ thống giao thông đường thủy vô cùng thuận lợi. Chính vì vậy, trong những giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân dân Cà Mau theo sự chỉ đạo của Khu ủy đã thiết lập các bến bãi và tổ chức các đơn vị vận tải đặc biệt góp phần hình thành nên con đường Hồ Chí Minh trên biển như ghi nhận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Anh cả của Quân đội ta: “Là một kỳ tích anh hùng, một chiến công huyền thoại, là khát vọng độc lập, tự do của nhân dân ta, một sáng tạo chiến lược tuyệt vời của Đảng ta trong thời đại Hồ Chí Minh”(2).

(1) Kênh (BT).
(2) Quân chủng Hải quân: Lịch sử đường Hồ Chí Minh trên biển, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, tr. 7.

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Cuộc chiến đấu ở phía trước - trung tướng Trần Phi Hổ« Trả lời #6 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2022, 08:04:16 am »
Những chiến công chói lọi này không chỉ nói lên lòng yêu nước nồng nàn, sự hi sinh to lớn, ý chí cách mạng quật cường, tinh thần chiến đấu quả cảm, thông minh, sáng tạo, quyết chiến quyết thắng của quân dân Cà Mau, mà còn thể hiện rõ niềm tin, tấm lòng thủy chung son sắt với Đảng, Bác Hồ, sức mạnh đoàn kết to lớn vô địch của thế trận chiến tranh nhân dân, của quân dân Cà Mau dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Năm tháng sẽ đi qua, song những giá trị truyền thống hào hùng ấy của Cà Mau anh hùng sẽ tiếp tục được các thế hệ người Cà Mau bồi đắp, phát triển, tỏa sáng, tạo nên sức mạnh to lớn hơn để quân dân Cà Mau thực sự xứng đáng là “mũi tàu”, đưa con tàu Việt Nam vững vàng chống chọi với phong ba bão táp, sóng to gió cả, dưới sự chèo lái của Đảng, ra biển lớn hòa nhập với cộng đồng quốc tế.

Sau khi ông ngoại thực hiện nhiệm vụ “điều lắng” của trên giao, cả gia đình tôi và ông bà ngoại ổn định nơi cư trú ở xã Trần Phán, Đầm Dơi, Cà Mau. Đây là một xã nghèo, song có truyền thống cách mạng. Xã được thành lập năm 1950 thuộc huyện Ngọc Hiển, tỉnh Bạc Liêu. Khi thành lập, theo nguyện vọng của nhân dân, theo đề nghị của lãnh đạo, chính quyền xã, sự chuẩn y của trên, đã nhất trí đặt tên xã là Trần Phán, tên một đồng chí cán bộ tiêu biểu, ưu tú của Đảng. Đồng chí Trần Phán thuộc thế hệ cán bộ, đảng viên tiền khởi nghĩa, một chiến sĩ cách mạng kiên trung của Đảng, là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bạc Liêu. Trong Khởi nghĩa Nam Kỳ (23-11-1940), đồng chí đã hi sinh anh dũng, để lại cho Đảng, cho dân tấm gương một cán bộ lãnh đạo xuất sắc, một chiến sĩ cách mạng kiên cường.

Khi mới đến, do còn nhỏ, tôi ít quan tâm đến tên tuổi của xã được mang tên ông. Lớn lên khi cắp sách đến lớp học, được thầy cô giải thích, về nhà ông bà ngoại dặn dò, tôi và đám bạn cùng trang lứa bắt đầu tìm hiểu về ông sâu hơn, kỹ hơn. Đầu tiên thấy tự hào, kính phục, đến tuổi thanh niên thấy phải noi gương ông, phải làm việc tốt cho xã, ấp, để xứng đáng với ông. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống Mỹ, cứu nước, địa danh, địa giới của xã có nhiều biến động; đến nay xã Trần Phán thuộc huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Xã Trần Phán nằm giữa hai con sông Đội Cường - Bảy Háp và Mương Điều. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, xã có 7 ấp (Bờ Đập, Tân Điền, Công Điền, Tân Phú, Thành Vọng, Trung Cang và Nhị Nguyệt); ngày nay phía bắc xã giáp sông Gành Hào, bên kia là thành phố Cà Mau; phía nam giáp xã Quách Văn Phẩm A, phía đông giáp với xã Tạ An Khương qua ranh giới sông Mương Điều, phía tây giáp xã Tân Hưng, Lý Văn Lâm(1), qua ranh giới sông Đội Cường - Bảy Háp.

Người dân quê tôi sống chủ yếu bằng nghề nông; bám dọc theo các tuyến sông, kinh rạch để làm nhà, trồng lúa... Tuy vậy, việc trồng trọt năng suất còn rất thấp, phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên vì đất thấp, nước ngọt ít, chủ yếu là nước lợ, nguy cơ nước mặn tràn vào phá hoại hoa màu rất cao, vì vậy mỗi hộ gia đỉnh có hàng chục hoặc vài chục công đất trồng lúa, song vẫn nghèo. Sau này, mặc dù chuyển đổi từ trồng lúa sang chăn nuôi, thủy sản, nhưng đời sống kinh tế của nhân dân nhìn chung vẫn còn thấp.

Dù vậy, nhân dân xã Trần Phán vẫn giữ gìn, nuôi dưỡng truyền thống đoàn kết, yêu nước và cách mạng. Truyền thống ấy được hình thành và phát triển trong lịch sử khai khẩn đất hoang, lập làng dựng ấp; trong quá trình chống chọi với thiên nhiên, thú dữ, với cường quyền áp bức. Đặc biệt, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, truyền thống cao đẹp ấy như được tiếp thêm sức mạnh mới, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giành nhiều chiến công vẻ vang trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn ở Campuchia và trong thời kỳ đổi mới. Với truyền thống và những thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngày 6 tháng 1 năm 1978, Đảng bộ và nhân dân xã Trần Phán đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”.

Sau khi ổn định nơi ăn, chốn ở, do ba tôi thường xuyên đi công tác vắng nhà nên má con tôi chủ yếu sống bên nhà ngoại, được ông bà ngoại chăm lo, dạy dỗ hằng ngày. Mặc dù đã 8-9 tuổi, dáng vóc tôi vẫn nhỏ thó, tính tình trầm lắng, ít nói, nhưng rất nhanh nhẹn, vừa đi học vừa đi làm. Má cho tôi đi học ở các lớp vùng ven, đây là vùng giáp ranh giữa ấp chiến lược và vùng ta (vùng giải phóng, ta làm chủ). Tại vùng này, cách mạng đã tổ chức các lớp học giành cho con em từ trong ấp chiến lược ra và vùng giải phóng theo học. Các lớp học ở thời điểm này luôn bị các cuộc càn quét và máy bay địch uy hiếp, bắn phá; vì vậy khi được báo động, thầy trò đều phải tìm nơi ẩn trú; báo động tan, thì quay lại lớp trong tình trạng khi thì ướt đẫm mồ hôi, khi thì quần áo dính đầy bùn đất, có bạn phải bỏ về “ngang xương” giữa buổi học.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn