Chiến thắng thường nghiêng về kẻ mạnh, nhưng không phải lúc nào cũng như vậy. Kẻ yếu có khi buộc kẻ mạnh phải "phơi áo". Ngụ ngôn cũng đã có câu chuyện: "Châu chấu đá lòi ruột voi" mà!
Những năm 60-70 thế kỷ trước, đế quốc Mỹ đã hai lần leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam trên thế của kẻ mạnh, nhưng cuối cùng lại bị thua, với kết cục 4.181 máy bay các loại bị bắn rơi, trong đó có nhiều máy bay chiến lược B-52, con chủ bài cùa không lực Hoa Kỳ, nhiều phi công Mỹ đã bị bắt sống hoặc phải đền mạng. Thủ đoạn gây nhiễu rađa là thủ đoạn hàng đầu của Mỹ hòng vô hiệu hóa lực lượng phòng không Việt Nam. Những công nghệ cao nhất thời bấy giờ đã được Mỹ đem ra sử dụng, trong khi đó Việt Nam gần như chưa có gì về những phương tiện tác chiến điện tử. Mức độ hiện đại về vũ khí trang bị của Việt Nam thì mới ở trình độ trung bình, có thứ còn lạc hậu, kém xa so với vũ khí trang bị của Mỹ. Đây thực sự là cuộc đối đầu không cân sức. Việt Nam đã làm gì và làm thế nào, để có thể đối chọi lại cuộc chiến tranh phá hoại, trong đó có hoạt động tác chiến điện tử của Mỹ và đã giành thắng lợi một cách ngoạn mục như vậy? Điều kỳ diệu nào đã dẫn đến kết cục đó? Chống chiến tranh phá hoại của Mỹ thực chất là chống tác chiến điện tử mà thủ đoạn chính là thủ đoạn gây nhiễu điện tử. Nhiệm vụ chống nhiễu là nhiệm vụ của toàn Quân chúng Phòng không - Không quân, ở mọi noi, mọi cấp và của mọi người, từ người tư lệnh Quân chúng đến người lính trên mâm pháo, bên bệ phóng, trong phòng thí nghiệm.
Quyển sách này trên phương diện tác chiến điện tử, cố gắng góp phần trả lời câu hỏi: Vì sao ta thắng được Mỹ?. Quyển sách tập trung nhiều về tên lửa PK- SAM-2, đối tượng quan trọng nhất mà Mỹ đã phải tập trung đối phó. Sự vươn lên của kẻ yếu nhưng biết hành sự để tạo nên sức mạnh vượt lên trên kẻ thù là điều chúng tôi muốn kể ở đây. Năm mươi năm đã trôi qua, nhiều vấn đề bí một đã không còn. Năm 2012, kỷ niệm 40 năm chiến thắng B-52, tất cả đã được phơi bày. Là những người trong cuộc, chuyên trách nghiên cứu nhiễu và chống nhiễu, chúng tôi viết về những việc mà Quân chúng Phòng không - Không quân đã làm, có sử dụng một số tư liệu từ một số tổng kết, hồi ký của nhiều cá nhân, đơn vị. Quyển sách này không viết theo trình tự thời gian như hồi ký mà đưọc viết theo trí nhớ của tác giả về các sự kiện đã xảy ra.
Chúng tôi cố gắng xuất bán sách vào dịp kỷ niệm 50 năm ngày Mỹ phát động chiến tranh phá hoại ra miền Bắc Việt Nam (5/8/1964 - 5/8/2014).
Tháng 8 năm 2014 PHAN THU | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Cuộc đối đầu không cân sức« Trả lời #3 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2020, 05:24:07 am » |
Chương I
TỪ CHIẾC RAĐA ĐẦU TIÊN ẤY Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, trung đoàn 367 vói sáu tiểu đoàn pháo cao xạ 37mm bất ngờ xuất hiện đã gây kinh hoàng cho lực lượng không quân của thực dân Pháp. Hỏa lực phòng không cộng với hỏa lực pháo binh của Việt Nam ở Điện Biên Phủ đã khống chế không phận và sân bay, khiến không quân Pháp vô cùng lúng túng, góp phần tích cực vào thắng lợi của chiến dịch lịch sử quan trọng này.
Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ có ý nghĩa quyết định cho sự cáo chung chiến tranh xâm lược nước ta của thực dân Pháp, mở đường để ta giải phóng hoàn toàn miền Bắc.
Tiếp quản thành phố Hà Nội và nhiều thành phố lớn khác, chúng ta đứng trước đòi hỏi phải xây dựng lực lượng Phòng không - Không quân quốc gia vững mạnh và đồng bộ để bảo vệ vững chắc không phận của Tổ Quốc. Thông qua Trung Quốc, Liên Xô đã viện trợ cho ta cả vũ khí trang bị và đào tạo cán bộ. Trong đó phải kể đến một loại pháo Phòng không tầng trung, cỡ 88mm, do Đức quốc xã sản xuất, là chiến lợi phẩm mà Liên Xô đã thu được khi tiến quân vào giải phóng Berlin. Lớp đào tạo cán bộ được tổ chức tại trường pháo binh ở thành phố Thẩm Dương, do chuyên gia Liên Xô huấn luyện cùng với giáo viên người Trung Quốc.
Vào mùa thu năm 1954, hàng trăm cán bộ, từ cấp trung đội đến cấp trung đoàn được tuyển lựa trong toàn quân để đi học. Số cán bộ đó là đội ngũ khung gần đủ cho ba trung đoàn pháo Phòng không cỡ trung. Sau này, số cán bộ đó là một trong những lực lượng nòng cốt cho sự phát triển Quân chủng Phòng không - Không quân của quân đội ta.
Pháo PK-88mm là loại pháo có trang bị khí tài điều khiển bắn, gồm có máy chỉ huy và rađa. Lớp học về khí tài được tổ chức riêng, gồm 36 người, được chọn trong các cán bộ sơ cấp có trình độ văn hóa tương đối hơn, trong đó có 18 người học rađa và 18 người học máy chỉ huy. Tôi được phân công học về rađa và trực tiếp phụ trách khối học về khí tài. Chúng tôi là những người đầu tiên trong quân đội ta tiếp xúc với kỹ thuật rađa, và khi luyện tập ở thao trường, đã phải trải qua một mùa đông lạnh giá, với nhiệt độ xuống đến âm 25-30°C. Rađa mà chúng tôi được đào tạo có tên là RZ-2 là loại rađa pháo cao xạ mà quân Đức đã sử dụng trong Đại chiến thế giới lần thứ hai và cũng đã phát huy tác dụng góp phần bắn rơi nhiều máy bay của quân Đồng minh.
Sau sáu - bảy tháng huấn luyện, tháng 3/1955 tất cả đoàn cán bộ chúng tôi, gồm cả pháo lẫn khí tài đều về nước, được điều về đại đoàn 367. Chúng tôi là những giáo viên huấn luyện chuyển binh chúng cho ba trung đoàn bộ binh thành ba trung đoàn pháo Phòng không (sau này, ba trung đoàn đó, là trung đoàn 240 bố trí bảo vệ Hải Phòng và hai trung đoàn 220, 250 bố trí bảo vệ Hà Nội).
Riêng lớp học chuyển binh chúng về rađa, phải tổ chức tại Hà Nội để lợi dụng mạng điện thành phố và có máy bay để luyện tập. Lớp học rađa được khai giảng ngày 5/5/1955 và kết thúc 15/9/1955 tại sân bay Bạch Mai, Hà Nội. Học sinh lớp rađa này được chọn lựa từ cán bộ, chiến sĩ thuộc các sư đoàn bộ binh 304, 308, 312, 320..., tất cả 63 người, có trình độ văn hóa cấp 3 phổ thông, khá hiếm thời bấy giờ. Phụ trách lớp học là anh Cao Phong và anh Hoàng Văn Ngữ. Tôi được giao nhiệm vụ làm tổ trướng giáo viên. Đây là lớp rađa đầu tiên của lực lượng Phòng không và cũng là lớp rađa đầu tiên của quân đội ta, được mở tại Việt Nam.
Trong lớp chuyển binh chủng này, có mấy việc mà chúng tỏi nhớ mãi. Hồi ấy, Hà Nội mới được giải phóng, nhiều việc còn rất bỡ ngỡ, chúng tôi phải trực tiếp kéo mạng điện thành phố cho rađa làm việc. Vì lý do bí mật và cả vì lý do không có kinh phí, chúng tôi phải tự đi thu nhặt hệ thống dây điện bao quanh tường sân bay, kéo đường điện ba pha vào ba vị trí cho ba chiếc rađa đặt ở ba vị trí khác nhau. Để bảo đảm bí mật, sau khi triển khai, rađa được che kín xung quanh bằng cót như các vựa thóc khổng lồ, mọc lên giữa bãi rộng.
Khí hậu Việt Nam nóng ẩm, trong khi các bộ phận chỉnh dòng của máy, hầu hết đều dùng bán dẫn và được đặt rất khít nhau nên các nguồn điện cao thế thường bị đánh lửa, gây chập mạch. Chúng tôi phải tháo một số khối nguồn điện ra, kê cao lên bằng sứ hoặc các chất kính nhựa Flexiglass dày có độ cách điện cao thì máy mới tạm làm việc được. Hiện nay, khi việc sử dụng rađa ở Việt Nam đã phổ biến thì thấy việc đó là bình thường, nhưng ở thời điểm đó, khi kỹ thuật rađa, kỹ thuật siêu cao tần còn là mói mẻ đối với nước ta thì thật là không đon giản chút nào. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Cuộc đối đầu không cân sức« Trả lời #4 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2020, 06:41:37 pm » |
Tôi không nhớ rõ thời gian cụ thể, nhưng khoảng tháng 7/1955, lớp học chúng tôi được vinh dự đón Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đến xem xét rađa. Đại tướng đến thẳng chỗ đặt máy; cùng đi với đại tướng có anh Tạ Quang Bửu và còn có cô con gái của đại tướng, hồi đó còn rất nhỏ, đi theo bám tay bố. Sau này tôi được biết, cô bé đó tên Võ Hồng Anh, là một trong hai người phụ nữ Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khoa học tại Liên Xô.
Tôi được phân công giới thiệu về rađa RZ-2 cho đại tướng. Sau phần nói về tính năng chiến kỹ thuật của rađa, tôi định nói tiếp về nguyên lý làm việc, thì anh Tạ Quang Bửu đã giải thích luôn cho đại tướng, rất trôi chảy và phân biệt những điểm giống nhau và khác nhau giữa rađa và máy thu phát vô tuyến điện. Anh Tạ Quang Bửu là một nhà khoa học uyên thâm và hiểu biết rộng về nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật. Cuối cùng, tôi có trình bày thêm với đại tướng về tình hình ảnh hưởng của khí hậu Việt Nam đến chế độ làm việc của rađa. Đại tướng nhắc nhở chúng tôi: "Phải chịu khó học tập để làm chủ các loại vũ khí, khí tài hiện đại, biết cách sử dụng cho phù hợp với con người và khí hậu Việt Nam. Rồi đây, chúng ta sẽ được trang bị nhiều thứ hiện đại hơn thế này”. Lời nói của đại tướng đã thành hiện thực. Chỉ sau đó vài năm, Binh chúng rađa được ra đời, một binh chủng rất quan trọng của Quân chúng Phòng không - Không quân, làm nhiệm vụ canh giữ bầu trời của Tổ Quốc.
Sắp đến ngày 2/9/1955, kỷ niệm 10 năm ngày Quốc khánh, bộ đội kéo về sân bay để luyện tập duyệt binh rất đông, việc che chắn của chúng tôi càng khó khăn nhưng sân bay trở nên nhộn nhịp, làm lính rađa chúng tôi đỡ buồn. Ngày 2/9, với ba chiếc rađa RZ-2, chúng tôi đã mở máy, nhận nhiệm vụ cảnh giới bầu trời bảo vệ cho cuộc mít-tinh và duyệt binh ở quảng trường Ba Đình, tuy loại rađa này chỉ quan sát được phạm vi 42km. Đến bây giờ, nghĩ lại thấy mình quá ấu trĩ nhưng chúng tôi cũng thấy rất tự hào. Vì dù sao, trong hoàn cảnh lúc đó, chúng ta chưa có một phương tiện nào có thể cảnh giới trên không một cự ly xa như vậy.
Thời gian đó, chúng tôi chưa hiểu thế nào là nhiễu đối với rađa. Khi chúng tôi luyện tập, tín hiệu phản xạ của mục tiêu được nổi trên màn hình “trong xanh củ lạc” không một gợn nhiễu nào.
Một thời đã qua, cái thời mà rađa RZ-2 chỉ có thể bám sát mục tiêu bằng tay và bán tự động nhưng mà lần đầu tiên lực lượng Phòng không chúng ta có được loại pháo bắn tới độ cao trung bình và có điều khiển, là một bước ngoặt lịch sử trên con đường phát triển của lực lượng Phòng không quốc gia.
Ngày nay, tiếp cận với các loại rađa hiện đại, chúng tôi không bao giờ quên cái buổi ban đầu được làm chủ loại rađa RZ-2. Tuy loại rađa này hiện nay không được sử dụng nữa nhưng gần một trăm cán bộ, chiến sĩ của rađa RZ-2 được điều động đi xây dựng các đơn vị rađa khác đã có đóng góp quan trọng cho sự phát triển của Quân chúng Phòng không- Không quân và nhiều người đã trở thành cán bộ chỉ huy các cấp, từ cấp chiến thuật đến cấp chiến dịch và cả cấp chiến lược nữa của quân đội. Họ đều đã xứng đáng và không hổ thẹn là những người đầu tiên góp phần đặt nền móng cho ngành rađa của nước ta. Điển hình là Vũ Ngọc Diệp, chiến sĩ trẻ nhất lớp chuyển binh chủng rađa, sau này là thiếu tướng phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không - Không quân và từng được giao giữ chức phó Chánh thanh tra quân đội nhân dân Việt Nam.
Riêng tôi, đây là bước ngoặt đi vào chuyên ngành rađa và dấn thân vào sự nghiệp nghiên cứu nhiễu và chống nhiễu trong gần hết cuộc đời binh nghiệp của mình. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Cuộc đối đầu không cân sức« Trả lời #5 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2020, 05:49:11 am » | Chương II
THỦ ĐOẠN TÁC CHIẾN ĐIỆN TỬ TRONG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI CỦA MỸ RA MIỀN BẮC NƯỚC TA SƠ LƯỢC VỀ QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN ĐIỆN TỬ TRONG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI CỦA MỸ RA MIỀN BẮC VIỆT NAM
Khi đưa máy bay ra bắn phá miền Bắc nước ta, quân đội Mỹ coi thủ đoạn tác chiến điện tử là thủ đoạn hàng đầu để giảm số máy bay của chúng bị lực lượng Phòng không - Không quân của ta bắn rơi. Bất kể loại vũ khí trang bị nào mà các nước XHCN viện trợ cho chúng ta thì tình báo của Mỹ cũng đều biết cả. Không những biết mà còn nắm được từng “chân tơ kẽ tóc” của các vũ khí trang bị đó. Vì vậy, hầu hết các loại rađa mà ta có đều bị địch gây nhiễu.
Trong chiến tranh Việt Nam và qua chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã đưa tác chiến điện tử lên hàng những biện pháp chiến lược. Mỹ coi đây là trọng điểm thử thách và phát triển các phương tiện tác chiến điện tử. Tác chiến điện tử mà Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam chủ yếu là các hoạt động trinh sát điện tử và gây nhiễu điện tử. Thủ đoạn gây nhiễu được phát triển theo mức độ leo thang chiến tranh phá hoại nhưng ở một cách nhìn khác thì việc phát triển máy gây nhiễu cũng tạo ra các thủ đoạn và mức độ leo thang mới. Trong cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc nước ta, đánh phá được gắn liền với gây nhiễu. Các hoạt động gây nhiễu được gắn liền với sự phát triển các máy gây nhiễu, luôn luôn được cải tiến, đổi mới và thủ đoạn gây nhiễu được gắn liền với thủ đoạn sử dụng loại tên lửa chống rađa.
Xin kể một cách tổng quát quá trình phát triển tác chiến điện tử trong chiến tranh phá hoại của Mỹ như sau:
Để chuẩn bị cho bước theo thang chiến tranh, từ những năm đầu thập niên 60, không quân Mỹ đã sử dụng các loại máy bay U2, SR-71, EB-66, EC-121 và các loại máy bay trinh sát điện tử khác cùng hệ thống các máy bay báo động sớm AWACS, để tìm hiểu và thu thập các thông tin về hoạt động vô tuyến điện tử của Việt Nam.
Trong những năm bắt đầu leo thang chiến tranh (1964- 1965), việc gây nhiễu của Mỹ còn đơn giản. Để yểm trợ cho máy bay cường kích vào đánh phá, máy bay EB-66 bay ở ngoài xa, trinh sát và gây nhiễu (hải quân Mỹ thì dùng máy bay EC-121, EA3B, EA6B... và phát nhiễu từ hạm tàu đỗ ngoài khơi biển Đông). Chúng tôi gọi loại nhiễu này là nhiễu ngoài đội hình nhằm ngụy trang cho hướng đột nhập của máy bay trinh sát, cường kích, tiêm kích. Khi các loại máy bay chiến thuật đó bay vào khu vực có hỏa lực phòng không thì thường thả những băng sợi kim loại làm nhiễu tiêu cực để tự ngụy trang. Khi chúng bay vào khu vực mục tiêu thường có lúc phải thoát ra khỏi hướng yểm hộ của nhiễu ngoài đội hình nên hỏa lực phòng không của ta vẫn có điều kiện bắn rơi chúng.
 Hình 1 - Các khu vực hoạt động nhiễu ngoài đội hình của Mỹ. | |
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Hai, 2020, 05:57:24 am gửi bởi Giangtvx » | Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Cuộc đối đầu không cân sức« Trả lời #6 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2020, 03:45:54 pm » | Ngày 27/3/1965, tên lửa PK-SAM-2 xuất hiện ở Việt Nam và trận đánh đầu tiên xảy ra ngày 24/7/1965 và đã bắn rơi một F4C làm địch vô cùng lo lắng. Để tránh sự phát hiện của rađa ta và giảm sự đe dọa của tên lửa phòng không Việt Nam, Mỹ đã sử dụng thủ đoạn bay thấp. Nhưng bay thấp lại vấp phải thiên la địa võng hỏa lực phòng không tầng thấp ở khắp nơi nên máy bay Mỹ vẫn tiếp tục bị bắn rơi.
Năm 1966, máy bay cường kích của Mỹ phải bay cao trở lại cùng với việc xuất hiện loại máy gây nhiễu mới, được đeo dưới cánh máy bay, có tên là QRC-160A làm thần hộ mệnh để tự vệ mà chúng tôi đặt tên loại nhiễu này là nhiễu trong đội hình. Còn Mỹ đặt tên cho đội hình biên đội 4 chiếc máy bay cường kích mang máy gây nhiễu dưới cánh là đội hình QRC. Máy gây nhiễu đeo dưới cánh máy bay có tác dụng ngụy trang cho máy bay để tự bảo vệ, nhất là khi thoát ra ngoài hướng yểm trợ của nhiễu ngoài đội hình. Ngoài tác dụng tự bảo vệ của từng máy bay, đội hình QRC còn có tác dụng bảo vệ chung cho biên đội hoặc tốp máy bay nhằm đối phó với cách đánh 3 điểm của tên lửa phòng không. Để nâng cao hiệu quả gây nhiễu, địch tăng thêm số lượng máy gây nhiễu. Lúc đầu chỉ có hai chiếc trong biên đội bốn máy bay đeo máy gây nhiễu QRC-160A, sau đó biên đội cả 4 máy bay đều đeo máy gây nhiễu. Thậm chí trong biên đội 4 chiếc máy bay, có 2 chiếc đeo 2 máy gây nhiễu. Với thủ đoạn này, trên màn hiện sóng tên lửa, nhiễu rất nặng và cả biên đội được một dải nhiễu rộng và rất sáng bao phủ. Nếu ta phát sóng thì khó bắt được mục tiêu và nếu bắn bằng phương pháp 3 điểm vào dải nhiễu thì sẽ dễ bắn vào giữa đội hình máy bay mà không trúng vào chiếc nào cả.
 Hình 2 - Đội hình QRC của biên đội máy bay mang máy gây nhiễu dưới cánh. Khi ta giải quyết được cách đánh 3 điểm đúng vào một chiếc trong biên đội thì địch lại có thủ đoạn mới. Đó là vào cuối năm 1966, đầu năm 1967, khi leo lên những nấc thang cao nhất của cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, Mỹ đưa vào sử dụng máy gây nhiễu ALQ-71 cũng đeo ở dưới cánh máy bay cường kích có công suất lớn hơn máy gây nhiễu QRC-160A và dải nhiễu trùm thêm sang rãnh đạn tên lửa, khiến đạn tên lửa của ta bị mất điều khiển, bay vút lên cao nổ khói trắng hoặc bị rơi xuống đất. Đây là thủ đoạn rất xảo quyệt của Mỹ. Trong khi đó, nhiễu ngoài đội hình cũng nặng hon do máy bay vào gần hơn với số lượng nhiều hơn.
Ngày 1 /4/1968, Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chỉ bắn phá từ vĩ tuyến 20 trở vào, nhiễu ở phía Bắc nước ta có giảm đi, nhung ở vùng Quân khu 4 lại bị tăng cường hơn.
Cuối năm 1971, Mỹ đưa B-52 vào ném bom trận địa quân ta ở chiến dịch Quảng Trị. Đầu năm 1972, địch dùng B-52 đánh phá vùng vĩ tuyến 17 và Quảng Bình. Từ 1/4/1972, Mỹ chính thức leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai. Tháng 12/1972, khi Mỹ đưa B-52 ra ném bom Hà Nội, Hải Phòng thì cả một rừng nhiễu đủ loại vây kín các loại rađa phòng không của ta.
Ngoài ra, cần phải nói đến thủ đoạn sử dụng tên lửa chống rađa mà chúng tôi cũng coi như một phạm trù mở rộng của tác chiến điện tử, vì thực chất nó cũng là một phương tiện chế áp điện tử, tận dụng năng lượng điện từ trường của rađa để chống rađa. |
|
|