Cuộc đời hoạt động cách mạng của Nữ tướng Nguyễn Thị Định Nguyễn Thị Định
Ngày 15 tháng 3 năm 1920, ở một làng quê nghèo Bến Tre, trong một gia đình nông dân có 10 người con, một bé gái ra đời. Người con út ấy được đặt tên là Nguyễn Thị Định, nhưng mọi người vẫn gọi thân thương là Út Định. Từ nhỏ, cô đã sống giữa cảnh nghèo khó, chứng kiến người dân quê mình phải chịu cảnh nước mất nhà tan, sống trong ách đô hộ của thực dân Pháp. Tuổi trẻ của Út Định không chỉ là những ngày cày cuốc hay học chữ, mà là những năm tháng ấp ủ một khát vọng lớn: giải phóng quê hương, giải phóng dân tộc.
Năm 1936, khi mới 16 tuổi, cô đã đứng vào phong trào Đông Dương đại hội, nơi những trái tim yêu nước cùng nhau nung nấu ước mơ đất nước độc lập. Hai năm sau, cô chính thức đứng vào hàng ngũ của Đảng, bắt đầu con đường cách mạng đầy gian khổ. Lúc này, cô cũng kết hôn với đồng chí Nguyễn Văn Bích – một chiến sĩ cách mạng, cùng chung lý tưởng. Nhưng hạnh phúc gia đình chưa được bao lâu thì bi kịch ập đến: chỉ 3 ngày sau khi sinh con trai đầu lòng, bọn mật thám đã bắt chồng cô và đưa ông ra Côn Đảo, nơi ông hy sinh.
Một người phụ nữ trẻ tuổi, chỉ 20, phải đối diện với nỗi đau tột cùng: vừa mất chồng, vừa phải nuôi con nhỏ. Nhưng Út Định không gục ngã. Trong lòng cô vẫn vang vọng lời dặn của chồng: “Dấn thân vào con đường cách mạng là phải chịu gian khổ, hy sinh”. Với nghị lực phi thường, cô bồng con vượt qua mọi thử thách, chịu đựng cảnh tù đày và khắc nghiệt, đứng vững cho đến khi ra tù năm 1943.
Năm 1944, cô bắt liên lạc lại với Đảng. Khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, một góa phụ 25 tuổi đã dẫn đầu hàng ngàn quần chúng tràn vào cướp chính quyền ở Bến Tre. Tinh thần lãnh đạo và lòng dũng cảm của Nguyễn Thị Định khiến cả vùng quê sôi sục. Khi Pháp trở lại chiếm lại miền Nam, cô không sợ hiểm nguy mà tiếp tục công tác, được bầu vào Ban Chấp hành Phụ nữ cứu quốc tỉnh.
Năm 1946, trong một chuyến vượt biển lịch sử, cô dẫn đầu đoàn cán bộ ra miền Bắc báo cáo với Bác Hồ, xin chi viện vũ khí, rồi trực tiếp vận chuyển 12 tấn vũ khí về miền Nam, mở ra con đường huyền thoại – “Đường Hồ Chí Minh trên biển”. Trong lòng cô, từng con sóng, từng cơn gió đều là thử thách, nhưng không gì có thể ngăn cản ý chí một người chiến sĩ cách mạng.
Sau Hiệp định Genève, khi đất nước tạm chia hai miền, Nguyễn Thị Định được chỉ định ở lại miền Nam hoạt động bí mật. Bao lần cô phải trốn chạy, sống trong rừng, trong hầm bí mật, đối mặt với cái chết, nhưng luôn được đồng bào đùm bọc, che chở. Năm 1959, với cương vị Phó Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, cô truyền đạt Nghị quyết 15 và trực tiếp chỉ đạo cuộc Đồng khởi đầu tiên vào ngày 17/1/1960.
Từ những người phụ nữ bình thường, dưới sự lãnh đạo của bà, “Đội quân tóc dài” ra đời, trở thành biểu tượng anh dũng, chiến đấu bằng cả chính trị, vũ trang và binh vận. Bà sáng tạo phương pháp “ba mũi giáp công”, đưa phong trào cách mạng lan rộng khắp miền Nam, làm thất bại hết chiến lược của Mỹ – ngụy.
Trong chiến tranh, Nguyễn Thị Định không chỉ là lãnh đạo kiệt xuất, mà còn là người chị, người mẹ của hàng ngàn chiến sĩ. Bà chăm lo từng bữa cơm, tấm áo, an ủi những nỗi đau mất mát, khích lệ họ tiếp tục chiến đấu. Tên gọi thân thương “chị Ba, cô Ba, bà Ba” đã trở thành biểu tượng của lòng nhân ái, sự tận tụy và sự gắn bó với nhân dân.
Ngày 17/4/1974, bà được phong Thiếu tướng, trở thành nữ tướng duy nhất trong Quân Giải phóng miền Nam. Trong mùa xuân 1975, khi 5 cánh quân rầm rập tiến về giải phóng Sài Gòn, bà là Phó Tổng tư lệnh Quân Giải phóng, Phó Tổng chỉ huy chiến dịch, góp phần làm nên ngày thống nhất non sông.
Sau ngày đất nước giải phóng, bà tiếp tục phục vụ Tổ quốc với các chức vụ cao trong Đảng, Nhà nước và Hội Phụ nữ, đồng thời giữ phẩm chất nhân hậu, khiêm nhường, chan hòa với mọi người. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói về bà: “Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta.”
Nguyễn Thị Định mất ngày 26/8/1992, nhưng hình ảnh người nữ tướng dũng cảm, giàu nhân ái, tận tụy vì dân, vì nước vẫn sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam. Những con đường, trường học và giải thưởng mang tên bà không chỉ tưởng nhớ mà còn nhắc nhở các thế hệ sau về ý chí, lòng dũng cảm và tinh thần hy sinh cao cả của người phụ nữ Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến.



