Cuộc đời Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ
Những năm từ 1972 đến 1974, đồng chí cùng Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 510 chỉ huy đơn vị tham gia nhiều trận đánh giành thắng lợi lớn: Tiến công yếu khu Kinh Quận (Vùng 4 Kiến Tường); diệt bốt Biện Minh, bốt Kinh Ngang; phục kích, phá tan cuộc càn vào Vùng 4 Kiến Tường của Trung đoàn 12 và Trung đoàn 10, Sư đoàn 7 ngụy; đánh chiếm mục tiêu Chi khu Vĩnh Kim... Tháng 8-1973, Sư đoàn 7 ngụy sau thời gian củng cố, tiếp tục tiến công vào Vùng 4 Kiến Tường. Tiểu đoàn 510 được tăng cường các đơn vị trực thuộc, là đơn vị tiên phong trực tiếp đối mặt với Sư đoàn 7 ngụy. Tiểu đoàn trưởng Trần Ngọc Thổ chỉ huy du kích gài mìn, đốt rơm rạ, địch sa vào bãi mìn, buộc phải dừng lại. Đồng chí tiếp tục lệnh cho đơn vị ném lựu đạn, bắn B41 vào máy bay địch. Bị tổn thất nặng, Trung đoàn 12 ngụy phải di chuyển sang hướng khác, tạm ngưng tiến công ta. Tháng 9-1973, địch sử dụng toàn bộ binh lực Sư đoàn 7 và Liên đoàn bảo an từ Sa Đéc về, quyết mở cuộc hành quân lấn chiếm toàn bộ Vùng 4 Kiến Tường. Tiểu đoàn 510 dưới sự chỉ huy của đồng chí Trần Ngọc Thổ tiếp tục đánh địch các trận nhỏ lẻ, nhằm kìm chân một bộ phận quan trọng của Sư đoàn 7.
Sang năm 1974, địch quay lại lấn chiếm và làm chủ cả Vùng 4 Kiến Tường. Từ tháng 3-1974, Trung đoàn 88 thực hiện đánh địch, giành lại Vùng 4. Tiểu đoàn 510 được giao nhiệm vụ giải phóng tuyến kênh Nguyễn Văn Tiếp A. Từ kinh nghiệm chiến đấu với Sư đoàn 7 ngụy, Tiểu đoàn trưởng Trần Ngọc Thổ sử dụng Đại đội 10 và du kích luân phiên vây đồn, diệt địch. Các đại đội 9, 11, 12, 16, 17, 18 làm nhiệm vụ cơ động đánh chặn lực lượng đến ứng cứu. Không đánh được ban ngày, địch chuyển sang hành quân ban đêm, đụng phải lực lượng phục kích của ta, chúng buộc phải rút quân. Từ tháng 5-1974, Trung đoàn 88 (có sự tham gia của Tiểu đoàn 510) và Trung đoàn 320 đồng loạt tiến công các đồn bốt địch trên khắp địa bàn.
Tháng 9-1974, toàn bộ Vùng 4 Kiến Tường và kênh Ba Gò Tháp (Đồng Tháp Mười) được giải phóng, đồng chí Trần Ngọc Thổ được điều về làm Trưởng ban Tác chiến Trung đoàn 88 Miền. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đồng chí cùng Ban Chỉ huy Trung đoàn nghiên cứu chiến trường, lên phương án tác chiến, tiến công Chi khu Tân Trụ, tiêu diệt đồn Cầu Ông Thìn, đánh chiếm Tổng nha Cảnh sát, kho quân vụ số 18 và kho xăng Nhà Bè, cùng quân và dân cả nước giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau ngày miền Nam giải phóng, tháng 7-1975, đồng chí nhận nhiệm vụ Tham mưu phó Trung đoàn 88. Từ tháng 6-1977 đến tháng 2-1978, đồng chí đảm nhiệm chức vụ Trung đoàn phó - Tham mưu trưởng Trung đoàn 201, Quân khu 7. Đồng chí cùng Ban Chỉ huy Trung đoàn chỉ huy đơn vị phối hợp với các lực lượng (Tiểu đoàn 14 Tây Ninh; Tiểu đoàn 2, Sư đoàn 316; Tiểu đoàn 105, Lữ đoàn pháo binh 75; Tiểu đoàn 26 tăng - thiết giáp; hơn 300 dân quân du kích huyện Châu Thành) tiến công quân Khơme Đỏ dọc tuyến biên giới Đông Nam Bộ, tiêu diệt 4 tiểu đoàn Pôn Pốt.
Tháng 8-1978, đồng chí được cử đi học tại Học viện Lục quân. Kết thúc khóa học, tháng 4-1979, đồng chí được điều ra miền Bắc tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Với cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 756, Sư đoàn 301, Quân khu Thủ đô, đồng chí chỉ huy đơn vị tham gia xây dựng tuyến phòng thủ phía Bắc sông Như Nguyệt (trên địa bàn hai huyện Yên Dũng, Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) bảo vệ Thủ đô Hà Nội.



