Anh hùng Lực lượng vũ trang

Cuộc đời Trung tướng Nguyễn Văn Tàu – người chiến sĩ tình báo mang bí danh Tư Cang

CUỘC ĐỜI TRUNG TƯỚNG NGUYỄN VĂN TÀU - NGƯỜI CỤM TRƯỞNG TÌNH BÁO H63 HUYỀN THOẠI VÀ 4 CHỮ KHẮC GHI ‘COI NHƯ CHẾT RỒI’

Đồng Tháp19/11/2025Nguyễn Phước Sang (Trường Đại học Tiền Giang)5 lượt xem0 lượt chia sẻ
- Sơ lược về cuộc đời ông

Đại tá Nguyễn Văn Tàu làm Cụm trưởng Cụm tình báo chiến lược H63 từ năm 1962 đến 1969 và từ 1972 đến cuối 1973. Với thành tích hoạt động ngay giữa nội thành Sài Gòn trong thời gian dài, năm 1971, cụm tình báo H63 là đơn vị tình báo duy nhất được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân ngay trong những năm tháng chiến tranh ác liệt.

Đại tá tình báo Nguyễn Văn Tàu sinh ngày 30/10/1928, có biệt danh Tư Cang. Tham gia cách mạng từ năm 1945 trong phong trào Thanh niên tiền phong, tới giai đoạn 1947-1954, ông là chiến sĩ quân báo của Việt Minh ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, đổi tên là Trần Văn Quang và làm trung đội trưởng trinh sát, sau đó là chính trị viên đại đội thông tin, Sư đoàn 338. Năm 1961, ông quay lại hoạt động tại chiến trường miền Nam. Tháng 5/1962, Tư Cang chính thức được giao nhiệm vụ chỉ huy cụm H63. Năm 1971, cụm tình báo H63 được tuyên dương Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, với cụm trưởng Tư Cang, các điệp viên Hai Trung (Phạm Xuân Ẩn), Tám Thảo (Nguyễn Thị Mỹ Nhung) và cô giao thông Nguyễn Thị Ba.

- Thời niên thiếu và con đường đến với cách mạng

Gia đình ông ở Long Phước, xã anh hùng thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu. Lúc nhỏ ông học giỏi, nhận học bổng 3 năm trường tỉnh, sau đó đậu Trường Pétrus Ký của Sài Gòn, đứng hạng 7 trong tổng số những người bản xứ thi năm ấy, và cũng được học bổng. Trong không khí cách mạng sôi sục, thay vì phấn đấu học tập để làm một chân công chức lương cao cho Pháp hay Nhật thì năm 1944 ông về làng xin gia nhập lực lượng Thanh niên Tiền Phong. Tháng 8/1945 ông cầm gậy tầm vông, cùng lực lượng ta ra thị xã giành chính quyền”.

Từ năm 1950 -1954, Tư Cang là Phó trưởng tiểu ban Quân báo của tỉnh Bà Rịa - Chợ Lớn (gồm cả các vùng phía Nam Sài Gòn). Năm 1954, ta chuẩn bị đánh lớn vào Sài Gòn, Tư Cang trực tiếp vẽ bản đồ cầu chữ Y cho bộ đội tấn công. Quân ta đã áp sát nội đô thì có lệnh “không đánh nữa, đình chiến rồi!”. Tư Cang và đồng đội lên tàu tập kết ra Bắc.

- Gia nhập lực lượng tình báo – bước ngoặt cuộc đời

Năm 1961, ông quay lại hoạt động tại chiến trường miền Nam. Đầu năm 1961, cụm tình báo quân sự A18 (tiền thân của cụm H.63) ra đời, đóng tại căn cứ Bời Lời (Tây Ninh). Tất cả để phục vụ điệp viên nổi tiếng Hai Trung. Đằng sau những tin tức, tài liệu chuyển về của Hai Trung, là cả hệ thống phục vụ, cả trong nội đô và ngoài căn cứ. Thời kỳ đầu, H.63 là bộ phận địch tình của thành ủy Sài Gòn. Khi Hai Trung (X6, Phạm Xuân Ẩn) từ Mỹ trở về, hoạt động giữa Sài Gòn với tư cách phóng viên báo nước ngoài, ông Mười Nho (Xuân Mạnh, Nguyễn Nho Quý – cán bộ Cục Tình báo) là người trực tiếp chỉ đạo.

Năm 1962, ông Mười Nho bị bệnh, không thể chỉ huy H.63. Cả mạng lưới với một điệp viên đã nằm sâu trong lòng địch như Hai Trung, cần một chỉ huy giỏi và mưu trí. Tư Cang là người được ông Ba Trần, Thủ trưởng Phòng tình báo miền lúc bấy giờ lựa chọn. Tháng 5 năm 1962, Tư Cang chính thức được giao nhiệm vụ chỉ huy cụm H.63. Sau chiến tranh, "bộ máy" H.63 đã 2 lần trở thành anh hùng (với những điệp viên tiêu biểu như: Tư Cang, Hai Trung, Tám Thảo, Mười Nho, Nguyễn Thị Ba,...).

Tháng 11 năm 1973 với quân hàm trung tá, ông và Nguyễn Văn Khiêm - lúc bấy giờ là thượng tá, là hai thành viên của Phòng Tình báo miền (J22) có mặt trong nhóm 20 sĩ quan cấp tá được chọn tập kết ra Bắc học tập, chuẩn bị cho các chiến dịch lớn. Sau ông là Chính ủy Lữ đoàn 316 đặc công biệt động, đơn vị tấn công cầu Rạch Chiếc trong Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.

- Những chiến công tiêu biểu

Những chiến công tiêu biểu của ông Tư Cang bao gồm việc chỉ huy trận tấn công cầu Rạch Chiếc trong vai trò Chính ủy Lữ đoàn đặc công biệt động 316, một trận đánh quan trọng góp phần giải phóng Sài Gòn. Ông đã cùng đồng đội thực hiện các nhiệm vụ tình báo quan trọng và luôn đặt sự an toàn của đồng đội lên trên hết.

- Vai trò trong giai đoạn Tổng tiến công 1975

Khi từ Hà Nội trở về, ông không còn là sĩ quan tình báo với nhiệm vụ lấy tài liệu địch, thu thập tình hình mà là một sĩ quan chỉ huy đơn vị tác chiến, chỉ huy những anh chị em mà ông đã từng rất mến phục. Thời gian này, ông là Chính ủy Lữ đoàn Đặc công biệt động 316, nhận nhiệm vụ chiếm giữ cầu Rạch Chiếc để cho đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn ngày 30/4/1975. Trong trận chiến đó, hơn 200 chiến sĩ của Lữ đoàn 316 đã đương đầu với hàng nghìn lính ngụy được trang bị vũ khí hiện đại và đã có 52 chiến sĩ vĩnh viễn nằm lại dưới lòng sông. Đêm 29/4/1975, các nẻo đường tiến về thành phố Sài Gòn nhộn nhịp khác thường. Khí thế các cánh quân hừng hực như dòng sông đến mùa nước lũ. Chiến tranh đang đi đến những giờ kết thúc. Thành phố có một đêm không ngủ. Sáng 30/4/1975, Tư Cang trên cương vị Trung tá Chính ủy Lữ đoàn, ngồi đường hoàng trên chiếc xe con chiến lợi phẩm, trong những người đi đầu tiến về sào huyệt cuối cùng của quân thù.

- Sau ngày đất nước thống nhất

Ông lại tiếp tục công tác cho đến ngày nghỉ hưu. Một người lính từng sống dưới “thân phận giả” gần 30 năm. Một người chồng giữ trọn lời hứa "anh đi, rồi anh sẽ về". Một người cha trở về vào đúng ngày đất nước thống nhất… Không cần phim ảnh, đây là câu chuyện thật, ngay giữa đời thường.

- Khẳng định những công lao to lớn của ông

Cuộc đời Trung tướng Nguyễn Văn Tàu – người chiến sĩ tình báo mang bí danh Tư Cang – giống như một bản anh hùng ca lặng thầm nhưng vang vọng mãi trong lịch sử dân tộc. Từ một chàng trai quê Bà Rịa giản dị đến vị tướng tài ba của ngành tình báo, ông đã sống trọn vẹn với lý tưởng, đặt Tổ quốc lên trên mọi gian nguy, sẵn sàng dấn thân vào bóng tối để mang lại ánh sáng hòa bình cho đất nước. Dù không ồn ào, không phô trương, cuộc đời ông lại sáng rực bởi trí tuệ, lòng dũng cảm và sự trung thành tuyệt đối. Nhắc đến Tư Cang là nhắc đến biểu tượng của ý chí Việt Nam: mềm dẻo mà kiên cường, thầm lặng mà phi thường. Hôm nay, khi đất nước đã thanh bình, những chiến công của ông vẫn là nguồn cảm hứng để mỗi chúng ta sống trách nhiệm hơn, kiên định hơn và biết trân trọng giá trị của hòa bình mà bao thế hệ đã đổi bằng máu và nước mắt. Cuộc đời ông khép lại, nhưng tấm gương của ông sẽ còn mở ra đường đi cho nhiều thế hệ mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn