Mẹ Việt Nam Anh hùng

Cuộc đời và câu chuyện đấu tranh giành độc lập cho dân tộc

50 Anh hùng Liệt sĩ Bà mẹ Việt Nam Anh hùngKhắc họa tấm gương dũng cảm, chí khí quật cường của những người con ưu tú đã ngã xuống trên các chiến trường.Tôn vinh sự hy sinh thầm lặng, đức vị tha và nỗi đau mất mát khôn cùng của các Mẹ khi dâng hiến những người thân yêu cho đất nước.

Khánh Hòa20/10/2026NGUYỄN KHANG (Phường Phước Long)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Việc viết câu chuyện cuộc đời và sự nghiệp đấu tranh của đầy đủ 50 nhân vật trong danh sách sẽ tạo thành một tài liệu rất dài. Để bạn dễ theo dõi và tra cứu, dưới đây là tóm tắt câu chuyện cuộc đời và sự nghiệp cống hiến của cả 50 Anh hùng Liệt sĩ và Bà mẹ Việt Nam Anh hùng:

Phần I: 25 Anh hùng Liệt sĩ

1. Lý Tự Trọng (1914 – 1931)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Sinh ra tại Thái Lan trong một gia đình Việt Nam yêu nước, ông được cách mạng đưa sang Trung Quốc học tập và gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1929, ông về Sài Gòn làm nhiệm vụ liên lạc, chuyển phát thư từ, tài liệu cho Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn. Ngày 9/2/1931, trong một cuộc diễn thuyết kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Yên Bái tại sân vận động Tảo Đàn, ông đã dũng cảm bắn chết tên mật thám Le Grand để bảo vệ đồng chí diễn thuyết. Ông bị địch bắt, tra tấn dã man nhưng không khai báo. Trước khi gục ngã trên máy chém lúc mới 17 tuổi, ông để lại câu nói bất tử: "Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng, không thể có con đường nào khác".

2. Võ Thị Sáu (1933 – 1952)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Sinh ra tại Đất Đỏ (Bà Rịa - Vũng Tàu), cô tham gia Đội công an xung phong Đất Đỏ từ năm 14 tuổi, nổi tiếng với nhiều trận ném lựu đạn diệt ác gian. Năm 1950, cô bị địch bắt khi đang làm nhiệm vụ. Dù chịu nhiều trận đòn tra tấn tàn khốc, cô vẫn giữ vững khí tiết cách mạng. Thực dân Pháp đưa cô ra Tòa án quân sự và tuyên án tử hình. Tháng 1/1952, cô bị đưa ra Côn Đảo thi hành án. Khi đối mặt với họng súng kẻ thù, cô từ chối bịt mắt, cất cao tiếng hát bài Tiến quân ca và hô vang khẩu hiệu "Việt Nam độc lập muôn năm!" trước khi trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 19.

3. Cù Chính Lan (1930 – 1952)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Quê tại Nghệ An, nhập ngũ năm 1950. Trong chiến dịch Hòa Bình (12/1951), tại trận Giang Mỗ, khi lực lượng ta bị xe tăng Pháp chặn đánh dữ dội, ông đã dũng cảm một mình đuổi theo, nhảy lên xe tăng địch, nhét lựu đạn vào kẽ hở nắp ca-pô tiêu diệt gọn chiếc xe tăng. Đầu năm 1952, trong trận đánh đồn Giang Mỗ lần hai, dù bị thương rất nặng ở cả tay và chân, ông vẫn không rời vị trí, tiếp tục chỉ huy và dùng lựu đạn mở đường cho đơn vị tiến lên cho đến khi trút hơi thở cuối cùng.

4. Bế Văn Đàn (1931 – 1954)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Người dân tộc Tày, quê Cao Bằng, nhập ngũ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Trong chiến dịch Đông Bắc (12/1953), đơn vị ông có nhiệm vụ chặn đánh lực lượng Pháp rút chạy. Trước tình thế quân địch tấn công dữ dội, khẩu trung liên của đồng đội không có chỗ đặt chân súng cố định để bắn hiệu quả, ông đã không ngần ngại lao ra cầm hai chân súng đặt lên vai mình và hô: "Kẻ thù trước mặt, đồng chí hãy bắn thẳng vào đầu chúng nó!". Đồng đội xả súng diệt hàng chạp tên địch, còn ông anh dũng hy sinh khi hai vai bị trúng nhiều vết đạn.

5. Tô Vĩnh Diện (1924 – 1954)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Quê ở Thanh Hóa, tham gia quân đội năm 1949 và trở thành pháo thủ cao xạ. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ (2/1954), trên đường kéo pháo nặng hàng tấn qua những dốc núi hiểm trở ra vị trí tập kết, đứt dây tời khiến khẩu pháo cao xạ 37mm trôi tự do xuống vực sâu. Trong khoảnh khắc hiểm nghèo, ông đã hô lớn và lao thẳng thân mình vào bánh pháo để chèn, chặn đứng đà trôi của pháo. Khẩu pháo được giữ an toàn, còn ông hy sinh vì chấn thương quá nặng.

6. Phan Đình Giót (1922 – 1954)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Quê ở Hà Tĩnh, sinh ra trong một gia đình nghèo khổ, gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1950. Chiều ngày 13/3/1954, trong trận mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ đánh vào cứ điểm Him Lam, hỏa lực từ lỗ châu mai của địch xả ra dữ dội chặn đứng đà tiến quân của ta. Dù đã bị thương nhiều chỗ, ông vẫn bò lên áp sát hỏa lực địch, dùng hết sức lực còn lại lao cả thân mình lấp kín lỗ châu mai, dập tắt hỏa lực đối phương để đồng đội xung phong tiêu diệt cứ điểm.

7. Trần Văn Ơn (1931 – 1950)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Sinh tại Bến Tre, là học sinh trường Pétrus Ký (nay là Chuyên Lê Hồng Phong, TP.HCM). Ông là hạt nhân nòng cốt trong phong trào bãi khóa, biểu tình học sinh - sinh viên chống chính quyền colonial Pháp và tay sai. Ngày 9/1/1950, trong cuộc biểu tình lớn của hơn 6.000 học sinh - sinh viên Sài Gòn đòi tự do, ông đã dũng cảm che chở cho các học sinh nhỏ tuổi hơn khi cảnh sát đàn áp và bị trúng đạn hy sinh. Cuộc phúng viếng ông đã biến thành cuộc biểu tình của hàng vạn nhân dân, và ngày 9/1 trở thành Ngày Học sinh - Sinh viên Việt Nam.

8. Nguyễn Thị Minh Khai (1910 – 1941)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Sinh tại Nghệ An, là một trong những nhà lãnh đạo tiên phong của Đảng Cộng sản Việt Nam và Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn. Cô hoạt động cách mạng sôi nổi ở cả trong và ngoài nước (Trung Quốc, Liên Xô). Năm 1940, cô bị Pháp bắt ngay trước Khởi nghĩa Nam Kỳ. Trong tù, cô chịu nhiều hình tra tấn dã man nhưng vẫn giữ vững khí tiết, dùng máu viết thơ cổ vũ đồng chí. Tháng 8/1941, thực dân Pháp đưa cô đi bắn tại Hóc Môn.

9. Kim Đồng (Nông Văn Dền, 1929 – 1943)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Người dân tộc Nùng, quê ở Hà Quảng, Cao Bằng. Ông là Đội trưởng đầu tiên của Đội Nhi đồng Cứu quốc (nay là Đội TNTP Hồ Chí Minh). Ông làm nhiệm vụ giao liên, vận chuyển thư từ bí mật và bảo vệ các cán bộ cách mạng. Sáng ngày 15/2/1943, trong một chuyến canh gác cuộc họp của cán bộ, phát hiện quân Pháp đang bủa vắn vào lán họp, ông đã cố tình chạy đánh động thu hút hỏa lực địch về phía mình để các cán bộ tẩu thoát an toàn. Ông bị trúng đạn và hy sinh bên bờ đStream lội suối khi mới 14 tuổi.

10. Lê Văn Tám (Thiếu niên anh hùng)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Hình ảnh biểu tượng của thiếu niên Sài Gòn trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp (1945). Xúc động trước sự tàn bạo của quân xâm lược, cậu bé làm nghề đánh giày đã mưu trí tiếp cận kho xăng đạn Thị Nghè của Pháp. Sau khi tự tạt dầu lên người, Tám châm lửa và lao như một ngọn đuốc sống vào giữa khu vực kho đạn, gây ra vụ nổ lớn làm rung chuyển Sài Gòn, phá hủy hàng triệu lít xăng dầu và vũ khí của địch.

11. Nguyễn Văn Trỗi (1940 – 1964)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Quê Quảng Nam, làm thợ điện tại Sài Gòn và tham gia Đội Biệt động Sài Gòn. Tháng 5/1964, ông nhận nhiệm vụ gài mìn tại cầu Công Lý để ám sát Phái đoàn quân sự cấp cao của Mỹ do Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu. Kế hoạch bị lộ, ông bị bắt. Tại pháp trường Chí Hòa ngày 15/10/1964, ông giật phắt khăn buộc mắt, hô lớn các khẩu hiệu cách mạng và hô vang "Hồ Chí Minh muôn năm!" ba lần trước khi ngã xuống.

12. Nguyễn Viết Xuân (1934 – 1964)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Quê Vĩnh Phúc, là Chính trị viên đại đội pháo cao xạ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong trận chiến đấu ác liệt chống máy bay Mỹ tại vùng trời Miền Tây Quảng Bình ngày 18/11/1964, đùi ông bị đạn bắn gãy nát. Ông từ chối võng về tuyến sau, yêu cầu y tá kẹp chặt vết thương và tiếp tục đứng tựa vào thành hầm chỉ huy đại đội nổ súng. Lời hô vang dội của ông: "Nhằm thẳng quân thù mà bắn!" đã trở thành khẩu lệnh chiến đấu kinh điển của lực lượng Phòng không - Không quân.

13. Đặng Thùy Trâm (1942 – 1970)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Sinh ra tại Hà Nội trong một gia đình trí thức, tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội năm 1966 và xung phong vào chiến trường Đức Phổ (Quảng Ngãi) làm Bệnh xá trưởng bệnh xá huyện Đức Phổ. Giữa vùng đất "núi ấn sông trà" cày xới bởi bom đạn, cô hết lòng cứu chữa thương bệnh binh. Tháng 6/1970, trong một chuyến càn quét của Mỹ, cô dũng cảm một mình dùng súng AK chiến đấu bảo vệ bệnh xá và thương binh cho đến khi hy sinh. Cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm của cô sau này đã lay động hàng triệu trái tim trên toàn thế giới.

14. Nguyễn Văn Thạc (1952 – 1972)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Sinh tại Hà Nội, là sinh viên xuất sắc Khoa Toán - Cơ, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1971, nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, ông gác lại bút nghiên xếp hàng lên đường nhập ngũ. Ông chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị cực kỳ ác liệt. Ngày 30/7/1972, ông hy sinh tại chiến trường Quảng Trị khi tuổi đời mới 20. Cuốn nhật ký Mãi mãi tuổi 20 của ông là bức tranh tinh thần cháy bổng khát vọng độc lập và tình yêu quê hương của thế hệ trẻ thời kỳ chống Mỹ.

15. Võ Thị Thắng (1945 – 2014)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Sinh tại Long An, tham gia phong trào bãi khóa của học sinh Sài Gòn và lực lượng biệt động. Năm 1968, cô bị chính quyền Sài Gòn bắt giữ và kết án 20 năm tù khổ sai. Khi nghe tuyên án, cô bình tĩnh mỉm cười và đáp lại: "Liệu chính quyền các ông có tồn tại đến 20 năm để tù tôi không?". Nụ cười rạng rỡ, đầy bản lĩnh trước Tòa án quân sự của cô đã được phóng viên nước ngoài chụp lại, trở thành biểu tượng "Nụ cười chiến thắng" nổi tiếng thế giới.

16. Lê Thị Hồng Gấm (1951 – 1970)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Quê ở Tiền Giang, tham gia du kích từ năm 16 tuổi và trở thành Trung đội trưởng du kích xã. Ngày 18/4/1970, trên đường đi giao liên, cô bị 3 máy bay trực thăng và một đại đội bộ binh địch bao vây. Bị thương nặng, cô vẫn kiên cường ẩn nấp dưới giao thông hào, dùng súng găm bắn rơi 1 máy bay trực thăng và tiêu diệt nhiều tên địch, chiến đấu đến viên đạn cuối cùng cho đến khi trút hơi thở cuối cùng, quyết không để địch bắt sống.

17. Võ Thị Tần (1944 – 1968)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Quê ở Hà Tĩnh, là Tiểu đội trưởng Tiểu đội 4, Đại đội 552 Thanh niên xung phong tại Ngã ba Đồng Lộc. Chị cùng đồng đội có nhiệm vụ san lấp hố bom, đảm bảo mạch máu giao thông cho xe vào chiến trường Miền Nam. Chiều ngày 24/7/1968, trong trận bom rải thảm tàn khốc của không quân Mỹ, chị Võ Thị Tần cùng 9 nữ đồng đội trong tiểu đội đã anh dũng hy sinh, dâng trọn tuổi thanh xuân cho con đường chiến lược.

18. Hồ Thị Cúc (1944 – 1968)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Sinh tại Hà Tĩnh, là Tiểu đội phó Tiểu đội 4 TNXP Ngã ba Đồng Lộc, cùng Tiểu đội trưởng Võ Thị Tần chỉ huy đơn vị bám trụ "tọa độ chết". Trận bom ngày 24/7/1968 đã vùi lấp cả 10 cô gái. Đồng đội đã đào xới tìm thấy 9 chị, riêng chị Cúc phải đến ngày thứ 3 mới tìm thấy thi thể dưới hầm sâu, trong tư thế tay vẫn ôm chặt chiếc xẻng xúc đất.

19. Trần Thị Hường (1949 – 1968)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Quê ở Nghệ An, gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong phục vụ tuyến đường chiến lược Truông Bồn (Nghệ An) - nơi hứng chịu hàng vạn quả bom Mỹ. Sáng ngày 31/10/1968, chỉ vài giờ trước khi Mỹ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc, chị Hường cùng 12 đồng đội trong "Tiểu đội thép" Đại đội 317 đã dũng cảm lao ra đường san lấp hố bom cho đoàn xe quân sự đi qua và tất cả 13 chiến sĩ đã hy sinh sau trận bom rải thảm bất ngờ.

20. Lê Đình Chinh (1960 – 1978)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Quê ở Thanh Hóa, nhập ngũ năm 1975 thuộc lực lượng Công an nhân dân vũ trang (nay là Bội đội Biên phòng). Ngày 25/8/1978, trong lúc làm nhiệm vụ bảo vệ đường biên giới tại khu vực Đồi Chùa, đồi Hữu Nghị (Lạng Sơn), ông đã dũng cảm chiến đấu chống lại toán đối phương vượt biên trái phép, dùng tay không bẻ gãy gậy gộc của địch và bình tĩnh bảo vệ đồng đội cho đến khi hy sinh. Ông là liệt sĩ đầu tiên hy sinh trong chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc.

21. Hoàng Thị Hồng Chiêm (1954 – 1979)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Quê ở Quảng Ninh, là thương nghiệp viên làm việc tại cửa hàng thương nghiệp huyện Trà Lĩnh (Cao Bằng). Khi chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra sáng ngày 17/2/1979, thay vì sơ tán về tuyến sau, chị đã tình nguyện ở lại bám đồi Pò Pun, cầm súng cùng lực lượng công an biên phòng chiến đấu bẻ gãy nhiều đợt tấn công của đối phương cho đến khi gục ngã tại hầm pháo.

22. Trần Văn Phương (1965 – 1988)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Quê Quảng Bình, là Thiếu úy, Phó Đảo trưởng đảo Gạc Ma (thuộc quần đảo Trường Sa). Sáng ngày 14/3/1988, khi lực lượng nước ngoài vô cớ cướp cờ và xả súng lên đảo, ông cùng đồng đội quây thành vòng tròn bảo vệ lá cờ Tổ quốc. Bị trúng đạn, ông vẫn ôm chặt cột cờ và hô vang trước khi hy sinh: "Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để máu của mình tô thắm cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân!".

23. Vũ Bẩy (1956 – 1988)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Quê ở Thái Bình, là Trung tá, Đảo trưởng đảo Gạc Ma năm 1988. Trong sự kiện Hải chiến Gạc Ma ngày 14/3/1988, ông đã bình tĩnh chỉ huy các lực lượng hải quân bám trụ trên tàu HQ-604 và đảo đá, tổ chức lực lượng cắm cờ khẳng định chủ quyền và anh dũng hy sinh cùng tàu và đồng đội giữa biển sâu để bảo vệ từng tấc đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

24. Nguyễn Thái Bình (1948 – 1972)

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Sinh tại Long An, là du học sinh xuất sắc nhận học bổng sang Mỹ học tập. Tại Mỹ, ông hăng hái tham gia và đứng đầu nhiều phong trào sinh viên chống chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam. Tháng 7/1972, sau khi tốt nghiệp, trên chuyến bay trở về nước, ông đã thực hiện hành động khống chế máy bay để đòi thả tự do cho các tù nhân chính trị Việt Nam và phát biểu lên án chiến tranh. Ông bị một cảnh sát Mỹ bắn chết ngay trên máy bay khi vừa hạ cánh xuống Tân Sơn Nhất.

25. Nguyễn Thành Trung

* Câu chuyện cuộc đời & Sự nghiệp: Tên thật là Đinh Quang Chung, sinh tại Tiền Giang. Cha ông là cán bộ cách mạng bị địch giết hại. Ông được cách mạng xây dựng thành một "mối ngầm" chui sâu vào hàng ngũ không quân chính quyền Sài Gòn. Ngày 8/4/1975, ông điều khiển chiếc máy bay F-5E rời phi đội, bất ngờ ném bom xuống Dinh Độc Lập – sào huyệt cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, sau đó hạ cánh an toàn xuống vùng giải phóng, gây chấn động dư luận và làm sụp đổ tinh thần quân địch.

Phần II: 25 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng

26. Mẹ Nguyễn Thị Thứ (1904 – 2010)

* Quê quán: Điện Bàn, Quảng Nam.

* Câu chuyện cuộc đời: Mẹ là biểu tượng vĩ đại nhất của sự hy sinh lòng mẹ Việt Nam. Mẹ có 9 con trai, 1 con rể và 2 cháu ngoại lần lượt ngã xuống trên các chiến trường chống Pháp và chống Mỹ. Đêm đêm, Mẹ đào hầm nuôi giấu cán bộ ngay trong vườn nhà. Mỗi lần nhận tin báo tử là một lần khúc ruột Mẹ đau thắt, nhưng Mẹ vẫn tiếp tục tiễn những người con tiếp theo lên đường. Chân dung Mẹ được lấy làm nguyên mẫu cho Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng cấp quốc gia tại Quảng Nam.

27. Mẹ Nguyễn Thị Rành (1900 – 1979)

* Quê quán: Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh.

* Câu chuyện cuộc đời: Mẹ sinh ra trên "Đất thép thành đồng" Củ Chi. Mẹ có 8 con trai và 2 cháu anh dũng hy sinh trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Bản thân Mẹ vừa là người mẹ hiền, vừa là cơ sở cách mạng kiên trung, nuôi giấu cán bộ du kích dưới hệ thống địa đạo. Mẹ được Nhà nước phong tặng cả hai danh hiệu cao quý: Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.

28. Mẹ Phạm Thị Ngự (1912 – 2002)

* Quê quán: Hàm Thuận, Bình Thuận.

* Câu chuyện cuộc đời: Mẹ có 8 con ruột và 1 con rể hy sinh vì độc lập dân tộc. Không chỉ dâng hiến những người con ruột thịt, Mẹ Ngự còn trực tiếp cầm súng đào hầm, nuôi giấu cán bộ, làm giao liên và tham gia du kích địa phương tiêu diệt địch. Mẹ cũng vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.

29. Mẹ Trần Thị Mít

* Quê quán: Hải Lăng, Quảng Trị.

* Câu chuyện cuộc đời: Sống ở vùng đất lửa Quảng Trị - nơi hứng chịu hàng triệu tấn bom đạn, gia đình Mẹ Mít chịu đựng tổn thất vô cùng to lớn: chồng, 6 con đẻ, 1 con dâu và 1 cháu nội đều là liệt sĩ. Mẹ bám trụ quê hương, gạt nước mắt tiếp tế lương thực cho các chiến sĩ giải phóng quân bám trụ chiến hào.

30. Mẹ Lê Thị Hẹ

* Quê quán: Triệu Phong, Quảng Trị.

* Câu chuyện cuộc đời: Đại diện cho một gia đình giàu truyền thống cách mạng bậc nhất Việt Nam. Bản thân Mẹ Hẹ có 2 con đẻ hy sinh, nhưng tính chung trong cả đại gia đình Mẹ có tới 7 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và 15 liệt sĩ. Mẹ là chỗ dựa tinh thần cho cả làng quê Triệu Phong kiên cường chống giặc.

31. Mẹ Trần Thị Viết (1892 – 2011)

* Quê quán: Bến Lức, Long An.

* Câu chuyện cuộc đời: Mẹ Viết sống qua ba thế kỷ và tiễn 8 người con trai ra chiến trường và không một ai trở về. Căn nhà của Mẹ ở Long An từng là nôi nâng đỡ bao thế hệ chiến sĩ du kích Đồng bằng sông Cửu Long. Mẹ qua đời năm 2011, thọ 119 tuổi.

32. Mẹ Lê Thị Tự

* Quê quán: Quảng Nam.

* Câu chuyện cuộc đời: Mẹ sinh được 12 người con thì có tới 9 người con trai hy sinh trên chiến trường. Sự hy sinh thầm lặng của Mẹ đã góp phần làm nên những chiến công lẫy lừng trên quê hương Quảng Nam trung dũng kiên cường.

33. Mẹ Phạm Thị Khánh

* Quê quán: Kiên Giang.

* Câu chuyện cuộc đời: Ở vùng sông nước Miền Tây, Mẹ Khánh có 7 người con trai (trên tổng số 8 người con) đã hy sinh anh dũng trong các chiến dịch đánh phá đồn bốt Pháp và Mỹ. Mẹ một tay chèo xuồng nuôi cán bộ, một tay tiễn các con vào chiến khu.

34. Mẹ Nguyễn Thị Thập (1908 – 1996)

* Quê quán: Châu Thành, Tiền Giang.

* Câu chuyện cuộc đời: Nữ đại biểu Quốc hội liên tục từ khóa I đến khóa VI, nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Mẹ vừa là nhà lãnh đạo cách mạng tài năng (Lãnh đạo Nam Kỳ khởi nghĩa ở Mỹ Tho), vừa là Mẹ Việt Nam Anh hùng có chồng và con trai hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

35. Mẹ Lê Thị Cháu (Lê Thị Lý)

* Quê quán: Gio Linh, Quảng Trị.

* Câu chuyện cuộc đời: Mẹ là hình mẫu thực tế đã đi vào thi ca cách mạng qua các bài hát nổi tiếng về "Bà mẹ Gio Linh". Mẹ dũng cảm vượt qua các đồn bốt địch để tải lương, giấu cán bộ và đào hầm nuôi dưỡng thương binh ngay trong lòng địch.

36. Mẹ Văn Thị Thừa

* Quê quán: Quảng Nam.

* Câu chuyện cuộc đời: Mẹ Thừa có chồng và 4 người con là liệt sĩ. Nhận đau thương thành hành động, Mẹ trực tiếp tham gia phong trào đấu tranh chính trị của phụ nữ địa phương, gài mìn bẫy địch và được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.

37. Mẹ Hồ Thị Hạnh

* Quê quán: Trà Vinh.

* Câu chuyện cuộc đời: Gia đình Mẹ Hạnh có truyền thống yêu nước mãnh liệt với tổng cộng 10 liệt sĩ. Mẹ và con gái của Mẹ (bà Trần Thị Thêu) đều vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

38. Mẹ Bùi Thị Hai

* Quê quán: Hàm Thuận Nam, Bình Thuận.

* Câu chuyện cuộc đời: Mẹ Hai có chồng và 4 người con hy sinh trong kháng chiến. Đặc biệt, cả 3 chị em ruột trong gia đình Mẹ (Mẹ Hai, Mẹ Dị, Mẹ Sáu) đều là những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

39. Mẹ Bùi Thị Dị

* Quê quán: Bình Thuận.

* Câu chuyện cuộc đời: Chị em ruột với Mẹ Bùi Thị Hai. Mẹ có 3 người con trai lần lượt ngã xuống trong các trận chiến ác liệt chống quân xâm lược ở vùng ven biển Nam Trung Bộ.

40. Mẹ Bùi Thị Sáu

* Quê quán: Bình Thuận.

* Câu chuyện cuộc đời: Người chị em thứ ba trong gia đình giàu truyền thống tại Bình Thuận. Mẹ Sáu đã tiễn 4 người con ra mặt trận và tất cả các anh đều hy sinh anh dũng vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

41. Mẹ Lê Thị Trị

* Quê quán: Điện Bàn, Quảng Nam.

* Câu chuyện cuộc đời: Mẹ Trị là con gái cả của Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ. Tiếp nối truyền thống gia đình, Mẹ Trị có chồng và 2 con gái là liệt sĩ. Bản thân Mẹ từng bị địch bắt, tra tra tấn dã man nhưng vẫn giữ vững tấm lòng trung kiên với Đảng.

42. Mẹ Lê Thị Minh Thủy

* Quê quán: Khánh Hòa.

* Câu chuyện cuộc đời: Là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng thời kỳ hòa bình. Mẹ có chồng (Đại tá, Phi công) và con trai (Thiếu úy, Phi công) đều anh dũng hy sinh trong khi thực hiện nhiệm vụ bay huấn luyện bảo vệ vùng trời Tổ quốc.

43. Mẹ Trần Thị Tư

* Quê quán: Đà Lạt, Lâm Đồng.

* Câu chuyện cuộc đời: Trong thời kỳ kháng chiến, Mẹ bám trụ vùng cao nguyên Lâm Viên, đào hầm nuôi giấu cán bộ nằm vùng và lần lượt tiễn 3 người con trai vào chiến khu và họ đều hy sinh.

44. Mẹ Lê Thị Nhẫn

* Quê quán: Lâm Đồng.

* Câu chuyện cuộc đời: Mẹ Nhẫn có 3 người con trai hy sinh trên các chiến trường Tây Nguyên ác liệt. Mẹ là cơ sở tiếp tế lương thực, thực phẩm quan trọng cho lực lượng du kích miền núi.

45. Mẹ Phạm Thị Cung

* Quê quán: Lâm Đồng.

* Câu chuyện cuộc đời: Một câu chuyện hy sinh đau thương nhưng vô cùng oanh liệt: Bản thân Mẹ Cung và 5 người con của Mẹ đều đã hy sinh anh dũng trong cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước.

46. Mẹ Lê Thị Sửu

* Quê quán: Lâm Đồng.

* Câu chuyện cuộc đời: Mẹ Sửu có 5 người con trai là liệt sĩ. Mẹ là tấm gương sáng về sự can trường, vượt lên mọi mất mát để hỗ trợ bộ đội giải phóng địa bàn Tây Nguyên.

47. Mẹ Nguyễn Thị Nhất

* Quê quán: Lâm Đồng.

* Câu chuyện cuộc đời: Mẹ có 3 người con là liệt sĩ. Căn nhà nhỏ của Mẹ là trạm dừng chân bí mật cho các đoàn quân tiếp viện từ Bắc vào Nam qua con đường chiến lược.

48. Mẹ Phạm Thị Đó

* Quê quán: Lâm Đồng.

* Câu chuyện cuộc đời: Mẹ Đó đóng góp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc 3 người con trai liệt sĩ. Mẹ luôn động viên bà con trong sóc, làng kiên quyết không theo địch, một lòng hướng về Bác Hồ.

49. Mẹ Phạm Thị Quýt

* Quê quán: Lâm Đồng.

* Câu chuyện cuộc đời: Mẹ Quýt có 3 người con ngã xuống vì độc lập tự do. Mẹ từng nhiều lần trực tiếp đi đầu trong các cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ chống chính quyền tay sai.

50. Mẹ Nguyễn Thị Két

* Quê quán: Lâm Đồng.

* Câu chuyện cuộc đời: Mẹ Két có 3 người con hy sinh anh dũng. Sự hy sinh của gia đình Mẹ đã góp phần giữ vững cơ sở cách mạng và giải phóng tỉnh Lâm Đồng mùa xuân năm 1975.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn