Cuộc đời và chiến trận
I THỜI NIÊN THIẾU Tôi sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, lớn lên trong cảnh ngộ tối tăm cùng cực, suốt ngày phải đi chăn trâu, cắt cỏ, lam lũ trên ruộng đồng. Tuổi thơ tôi chưa từng được cắp sách tới trường, dù chỉ một ngày. Làng quê tôi vốn là vùng đất trù phú, các đáng tổ tiên đã từng khai phá tạo dựng, trải qua cả ngàn năm cùng những thăng trầm theo lịch sử… Ngày xưa tên làng là Phú Mỹ (có nghĩa là giàu đẹp) thuộc tổng Phú Hậu, nay thuộc xã Quỳnh Hoa, huyện Quỳnh Lưu - tỉnh Ngh
II. BƯỚC KHỞI ĐẦU
Khi tôi bước vào tuổi vị thành niên thì phát xít Nhật vào Đông Dương. Cuộc chiến tranh thế giới đang diễn ra vô cùng ác liệt, tàn khốc. Ở trong nước. phong trào cách mạng dâng cao, mặt trận Việt Minh ra đời. Khởi nghĩa Bắc Sơn dẫn đến sự ra đời của lực lượng tuyên truyền vũ trang cách mạng, có tác động mạnh mẽ rộng lớn và trực tiếp kích thích tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân ta, đặc biệt trong công nhân, nông dân và thanh niên trí thức, học sinh tiến bộ ở khắp mọi miền đất nước.
Đó cũng là những ngày tháng đánh dấu bước ngoặt đầu cuộc đời mà tôi không bao giờ quên.
Vào những năm 1943-1944, tôi may mắn được ông Kỳ, lão thành cách mạng, đảng viên từ những năm 1930, dìu dắt hướng dẫn giúp đỡ, giao cho làm liên lạc Việt Minh. Ngoài ra còn có ông Thiết là cán bộ chuyên trách của Việt Minh đi sát bồi dưỡng năng lực công tác để giúp tôi làm tròn nhiệm vụ được giao.
Ông Kỳ rất thọ, đến năm 99 tuổi mới mất. Ngày ông mất tôi ở xa không về được để có thể trực tiếp phúng điếu và tri ân người thày đã dìu dắt tôi trong thời gian đầu theo Cách Mạng.
Cuối năm 1944 là giai đoạn Cách mạng xây dựng tổ chức bí mật tiền khởi nghĩa, tôi được bổ sung vào đội bảo vệ, chính thức được nhận công tác bí mật mà cơ sở Việt Minh ở địa phương giao cho.
***
Một đêm lạnh giá của tiết đầu Xuân, chúng tôi vừa hoàn thành những công việc trên giao cho địa phương. Làng quê im lìm yên ngủ sau một ngày lao động mệt nhọc trên ruộng đồng. Những ngày tháng ấy đói lê thê, trai gái gày guộc, dân làng còm cõi, xóm thôn không còn tiếng nói cười, ca hát. Đêm đen trĩu nặng với gió và rét.
Bỗng có những tiếng súng nổ dồn dập, liên hồi, rồi tắt ngấm ở phía đồn Giát của quân Pháp đóng trên sườn núi phía Tây ga xe lửa và huyện lỵ. Nơi đó cách làng tôi 3km. Cả vùng quê phụ cận bị tiếng súng nổ dựng dậy, tỉnh giấc trong sự ngơ ngác bàng hoàng, thoảng thốt.
Đến khi gà gáy sáng thì liên lạc báo tin: Quân Nhật đánh chiếm huyện lỵ và đồn Tây; nó bắn chết tên quan đồn rồi”. Đó là sự kiện diễn ra ngày 9 tháng 3 năm 1945 ở quê tôi.
Vài ngày sau, cơ sở Việt Minh đã phát đi tài liệu “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chúng tôi đi rải truyền đơn chuyển tài liệu mật và hướng dẫn nhiệm vụ cụ thể, vận động các tầng lớp nhân dân bình tĩnh, tin tưởng, chuẩn bị tinh thần sẵn sàng chờ lệnh của Việt Minh và uỷ ban Khởi nghĩa Trung ương. Các lực lượng tự vệ nơi nơi sẵn sàng tham gia chiến đấu.
Ít lâu sau, không quân của phe đồng minh tấn công quân Nhật ở Đông Dương. Các biên đội máy bay cường kích B29 của Mỹ được sử dụng, máy bay hai thân từ hạm đội và căn cứ Thái Bình Dương vào ném bom các mục tiêu quân sự, kho tàng, trại lính, cảng biển, nhà máy xe lửa do quân Nhật chiếm đóng ở thành phố Vinh - Bến Thuỷ.
Có lần, một chiếc máy bay tiêm kích của đồng minh bị súng phòng không của quân Nhật bắn trúng ở Vinh, phải bay về phía bắc hạ cánh khẩn cấp trên một đồng lúa nước, trong khu ruộng nằm sâu tại vùng đồi núi của làng Tràm (nay thuộc xã Quỳnh Thạch).
Một giờ sau, xe hiến binh Nhật đuổi tới, các phi công đã kịp trốn thoát xuống phía bờ biển. Nhưg chỉ qua một đêm, ngày hôm sau quân Nhật đã truy tìm được 3 phi công đồng minh đem về huyện lỵ chờ chuyển đi. Trong thời gian các phi công bị tạm giữ tại đó, thanh niên, học sinh, trẻ em, người lớn, túm tụm đến xem… Đó là lần đầu tiên họ trông thấy người Nga và người Mỹ. Trong 3 phi công có một người Nga biết nói tiếng Pháp nên dân chúng mới biết được. Ông ta trắng, cao gầy nhất trong phi hành đoàn.
III. CHIẾN SỸ VỆ QUỐC ĐOÀN.
Những ngày có trào Cách mạng thời kỳ Tổng khởi nghĩa đã hun đúc cho tôi ý trí quyết tâm làm tròn nhiệm vụ mà Đảng và quân đội giao phó. Khi tôi là là liên lạc của Việt Minh (do ông Triết, ông Kỳ, ông Biên giác ngộ). Đến khi được gia nhập vệ quốc, tôi thường được các bậc cha chú và lớp đàn anh động viên, giáo dục, khuyến khích, ân cần chỉ bảo. Tôi biết rõ lý tưởng Cách mạng của thanh niên và nỗ lực rèn luyện tinh thần sẵn sàng chiến đấu hy sinh.
Tham gia đội tư vệ hồi ấy còn có các ông Chước, ông Thành, ông Du.
Cách mạng tháng Tám thành công là lúc tôi vừa bước sang tuổi 17. Cơ quan Việt Minh và Uỷ ban nhân dân Cách mạng địa phương đã chọn, cử tôi đi học khoá quân sự đầu tiên của tỉnh nhà (tháng 8 năm 1945) do trung đoàn 57 mở ở huyện Thanh Chương. Sau khoá huấn luyện cấp tốc đó, tôi được bổ sung vào lực lượng tự vệ thành Vinh, trong biên chế của đại đội Hồng Sơn. Ngày nay, nhiều đồng chí đồng đội của tôi hồi đó còn sống, trong đó có đồng chí Thực và đồng chí Hoàng Thời là cán bộ đơn vị.
Bấy giờ tôi chưa đủ tuổi nhập ngũ, sức khoẻ, trọng lượng, chiều cao đều thiếu, nên gia nhập vệ quốc đoàn là việc khó khăn. Lần thứ nhất dự tuyển quân, dù đã bí mật bỏ đá vào túi quần, nhưng vẫn không lọt. Tôi ra đồi ngồi khóc, không dám về nhà vì xấu hổ với bạn bè. Lần thứ hai, tôi tăng lượng đá và may mắn trúng tuyển. Cùng với lòng tha thiết và quyết tâm cao, công thêm sự láu lỉnh cần thiết, tôi đã đạt được nguyện vọng, được ông Khiếng (tức đồng chí Lê Nam Thắng, sau này là thiếu tướng thanh tra Quân đội) và đồng chí Nguyễn Cận (sau này là đại tá, cán bộ sư đoàn 341) tiếp nhận, cho vào làm liên lạc trung đoàn 57. Hồi đó đồng chí Trần Văn Quang là chính uỷ (sau này là Thượng tướng thứ trưởng Bộ Quốc Phòng) chấp nhận. Tôi gia nhập Vệ quốc đoàn, vào chi đội Đội Cung do đồng chí Nguyễn Cận làm tiểu đoàn trưởng. Từ đó tôi trở thành chiến sỹ Vệ quốc đoàn. Nhớ lúc đi chân đất, quần cộc vào thành phố Vinh học quân sự, trong bộ quân phục Vệ quốc đoàn, tôi trở thành anh bộ đội cụ Hồ oai phong dũng mãnh. Niềm vinh dự đó làm tôi hân hoan, vui sướng và cũng là nguồn cổ vũ, khích lệ động viên tôi hoàn thành nhiệm vụ do cán bộ và ban chỉ huy giao cho. Được sự khích lệ của cấp chỉ huy, tôi sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì, dù khó khăn, nặng nhọc.
Tuổi trẻ chúng tôi hồi ấy hồn nhiên và sôi động, hăng say và vui nhộn. Tôi còn nhớ câu thơ vui, đồng đội thường đọc cho nhau nghe những đêm đông rét lạnh, phải dùng bao bố bì gai làm mền đắp :
Anh em du kích thành Vinh
Đêm nằm chăn “Mỹ” rung rinh cái đùi
Nửa đêm thức dậy, hùi hùi
Tưởng rằng chăn Mỹ? Úi giời bì gai!”
Những lúc đó, chúng tôi quây quần ôm ấp sưởi ấm cho nhau bằng lòng tin và tình đồng chí, bằng hơi nóng của lý tưởng Cách mạng, với cả lòng yêu nước dạt dào và trái tim sôi nổi tràn đầy nhiệt huyết. Những ngày đầu vào Vệ quốc đoàn, bản thân tôi cũng gặp sự cố đau xót. Đó là ngày cha tôi mất ở quê, tôi không được biết!
Vì thế, tôi mang nỗi buồn chưa làm tròn được chữ hiếu. Sau đó, cứ có dịp được cấp trên cho phép, dù thời gian ngắn ngủi, tôi cũng tranh thủ đi bộ, có khi vừa đi vừa chạy, để về thăm mẹ và gia đình. Quãng đường từ đơn vị về nhà tôi rất xa, mà chỉ trong một ngày một đêm tôi đã kịp về đơn vị đúng thời lệnh cho phép. Tôi vô cùng thương nhớ và kính trọng mẹ tôi. Người chịu goá bụa lúc 40 tuổi, một mình lam lũ nuôi đàn con nhỏ, sống một đời nhân hậu, giản dị, yêu lao động, cả một đời hy sinh vì chồng con. Mẹ tôi hưởng thọ 93 tuổi, Cha tôi mất sớm. Ông để lại cho bà 6 người con đó là :
Anh cả, Lê Văn Thừa
Lê Hoàng Thống (tôi)
Lê Thị Thái
Lê Thị Thông
Lê Quang Thục
Lê Thị Thuỷ.
Sau Cách mạng tháng Tám, cô Thái đã mất, còn lại 5 anh em đều hăng say tham gia kháng chiến. Tôi, Thục, Thuỷ đều là quân nhân và thanh niên xung phong. Em tôi, Lê Quang Thục, là một thương binh, hiện đang công tác ngành điện lực. Em gái Lê Thị Thuỷ là nữ thanh niên xung phong trong đơn vị nổi tiếng hồi đánh Mỹ, nay đã về hưu.
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Liên khu Bốn tiến hành cuộc tiêu thổ kháng chiến triệt để và quyết liệt nhất. Quân dân ta san bằng thành phố Vinh, thị xã Hà Tĩnh và thị xã Thanh Hoá, phá huỷ toàn bộ cầu cống, đường giao thông, đường sắt, đường xe lửa. Chỉ trong một thời gian ngắn, tất cả đã trở thành bãi bằng, với những đống gạch vụn… Sự hy sinh của dân ta thật vô bờ bến. Ngày ấy, tham dự trực tiếp phá huỷ thành phố của quê hương mình, chúng tôi không khỏi bùi ngùi nuối tiếc và xúc động. Những tấm lòng của đồng bào quyết đi lên theo tiếng gọi của Bác Hồ: “Ta thà hy sinh tất cả chứ quyết không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, vì sự toàn thắng của kháng chiến và hàng chục vạn đồng bào các thành phố ừ bỏ tài sản, nhà cửa để bồng bế nhau “tản cư” đi kháng chiến. Đó là quang cảnh “bi hùng” trong những ngày đầu kháng chiến ở Liên khu Bốn mãi mãi để lại dấu ấn lịch sử chiến tranh Việt nam thời hiện đại và hiệu quả của tư tưởng chiến lược, tổ chức chỉ đạo chiến tranh nhân dân của Đảng ta.
Nhờ nỗ lực phấn đấu, sau khi gia nhập Vệ quốc đoàn, trước khi ra Việt Bắc, tôi được kết nạp vào Đảng cộng Việt Nam. Buổi lễ kết nạp Đảng được tổ chức ở chùa Hưng Thông huyện Hưng Nguyên. Ông Bảy và ông Từ là người giới thiệu tôi vào Đảng. Chi bộ lúc đó có các ông Toàn, Bạy, Ngọ, Từ và ông Ngô Trí Bình. Tuổi trẻ đầy ước mơ và lãng mạn. Chuẩn bị rời quê hương lên Việt Bắc, tôi nghĩ mình đã hết khổ rồi, cái tên Hoàng Thống không còn thích hợp, phải có cái tên mới, đẹp và bay bổng. Tôi chọn tên Hồng Phong; Hồng Phong là gió đỏ tức là gió Cách mạng. Nhưng bạn bè bảo đó là tên lãnh tụ của Đảng, đồng chí Lê Hồng Phong, bị giặc sát hại năm 1942. Tôi nghe cũng sợ, bèn đổi chữ Hồng ra chữ Nam, Nam Phong là gió Nam - thứ gió mát lành nhất của quê tôi.
Năm 1947, lực lượng quân sự hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh được tiếp tục huy động cho chiến trường Bình - Trị - Thiên và Trung, Thượng Lào. Những đoàn quân Nam tiến, Tây tiến rầm rộ lên đường đến các mặt trận gần xa. Tháng 3 năm 1948, tôi cùng một số đồng chí ở khu Bốn được điều ra Việt Bắc để học khoá huấn luyện quân sự - chính trị ở trường lục quân Hoàng Hữu Nam, Liên khu Mười. Chính ở đây, tháng 9 năm 1948, tôi được vinh dự chuyển Đảng chính thức. Trở về chiến khu Việt Bắc sau khi kết thúc khoá học, đến đầu tháng 1 năm 1949 tôi được bổ sung vào đơn vị của Đại đoàn 308. Cũng từ ngày ấy, tôi vinh dự trở thành cán bộ chỉ huy ở đại đoàn Quân tiên phong. Tại đây, thời kỳ đầu, tôi được giao làm cán bộ chỉ huy các đại đội Tô Văn, 211, 225, 213 của tiểu đoàn 322 thuộc trung đoàn 88. Bắt đầu đơn vị bước vào đội hình chiến đấu trên các chiến trường và các chiến dịch ở Việt Bắc, Tây Bắc, trung du Bắc Bộ và cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
IV. CHIẾN TRƯỜNG VIỆT BẮC.
Là một chiến sỹ Vệ Quốc đoàn tuổi còn rất trẻ, may mắn tôi được cử dự lớp huấn luyện quân sự đặc biệt cấp tốc ở trường Lục quân Hoàng Hữu Nam. Là một Đảng viên mới được kết nạp, tôi trở thành một cán bộ quân sự sơ cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam để từ đó hăng hái lên đường chiến đấu, mang theo bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ yêu đời, say mê hoài bão, khát khao thực hiện ý tưởng Cách mạng cao đẹp của đời mình. Trở về đơn vị công tác một thời gian, tôi được bổ sung lên Việt Bắc và nằm trong biên chế của đoàn cán bộ bổ sung cho Trung đoàn 88, sau này thuộc Đại đoàn 308. Sau Thu Đông 1947, cuộc kháng chiến toàn quốc của nhân dân ta bước qua một thời kỳ mới. Ở khắp các chiến trường từ Nam Bộ đến cực bắc Nam Trung bộ, ở Liên Khu 3, Liên Khu 10, ở Bình - Trị - Thiên (Liên Khu 4) cuộc chiến tranh du kích của nhân dân chúng ta được đẩy cao thêm một bước. Ta thu được nhiều thắng lợi tại các thành phố lẫn vùng nông thôn, ở đồng bằng và cả ở các chiến trường Tây Bắc, Việt Bắc, trên chiến trường Thượng và Trung, Hạ Lào. Nơi nào cũng ầm vang tiếng súng. Quân dân kháng chiến lập được nhiều chiến công lẫy lừng. Cuộc chiến tranh Cách mạng của nhân dân ta đang nằm trong thời kỳ cuối của “chiến lược phòng ngự”. Bộ đội chủ lực đã bắt đầu củng cố, xây dựng lớn mạnh dần. Chiến tranh nhân dân phát triển sâu rộng. Dân quân du kích trên đà được kiện toàn với bình diện và quy mô ngày càng lớn.
1947 - 1948, chúng ta thắng lớn ở chiến dịch Sông Lô, ở Phố Ràng, Phủ Thông (Việt Bắc), ở mặt trận Nha Trang - Khánh Hoà, ở Liên Khu 5 cùng Tây Nguyên (Kon Tum - Đắc Lắc), phá tan cuộc hành quân càn quét lớn của địch. Có những trận chiến vang dội ở Bà Rịa - Vũng Tàu, ở nội đô cũng như ngoại vi Sài Gòn - Gia Định, ở Đà Lạt - Lâm Đồng, Mỹ Tho, Cần Thơ…vv.
Cuộc chiến tranh đang chuyển dần sang “Thời kỳ cầm cự”. Khi tôi về Đại Đoàn 308 để chuẩn bị đi chiến dịch Đông - Xuân 1949 - 1950, thì ở Việt Bắc dưới sự lãnh đạo của Bộ Quốc Phòng, lãnh đạo của lực lượng vũ trang chủ lực của chúng ta bắt đầu chuẩn bị cho chiến dịch lớn, mang ý nghĩa quyết định cho sự thay đổi cán cân lực lượng giữa ta và địch. Bước vào Đông - Xuân 1949 - 1950, ở đồng bằng Bắc Bộ và Tây Bắc cũng như ở Trung, Thượng Lào, quân ta chủ động tấn công các căn cứ địch; quyết định chống càn, bẻ gãy các mưu đồ tiến quân lên Tây Bắc và Việt Bắc của giặc Pháp. Phối hợp với đồng bằng Bắc Bộ, các chiến trường đẩy mạnh chiến tranh du kích, đẩy quân thù vào sự lúng túng, phải đối phó với chiến lược mới của quân chủ lực chúng ta.
Ngày 1.10.1949, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thành lập. Cuối năm 1949 đơn vị tôi nhận nhiệm vụ bí mật vượt qua biên giới Việt Trung sang Vân Nam nhận trang thiết bị, vũ khí do Trung Quốc chi viện. Chuẩn bị cho chiến dịch biên giới Cao - Bắc - Lạng, năm 1950, công tác tổ chức chiến trường diễn ra gấp rút và rất bí mật.
Để đi qua biên giới, chúng tôi phải cải trang thành những người dân địa phương, mặc quần áo màu sắc của các bà con dân tộc H’mông, Tày, Nùng… và phải nhanh chóng, bí mật vượt qua biên giới trong đêm tối…
Hồi đó, thực dân Pháp sau thất bại ở Tuyên quang và thất bại khi nhảy dù tập kích Thủ đô kháng chiến Bắc Cạn (1947), chúng đã tổ chức chiếm đóng và bố phòng chặt chẽ vòng cung biên giới 6 tỉnh Cao - Bắc - Lạng - Hà - Tuyên và thêm Lào Cai - Yên Bái… Ngoài các thị xã, đồn bốt chính, chúng tổ chức những đơn vị canh gác, tuần tra cơ động trên toàn tuyến biên giới, đặc biệt là sau ngày Cách mạng Trung Quốc thành công. Vì vậy, nhiệm vụ lần này của đơn vị chúng tôi được cấp trên phổ biến, quán triệt tỷ mỉ mục đích yêu cầu và triển khai những việc cần làm, phải hoàn thành trong một thời gian ngắn và phải tuyệt mật.
Lần đầu tiên ra khỏi biên giới Việt nam đi làm một nhiệm vụ bí mật, lòng chúng tôi không khỏi lo lắng, hồi hộp, xúc động. Trên khuôn mặt và ánh mắt anh em đồng chí trong đơn vị đều rạng ngời lên một niềm hân hoan phấn khởi.
Khi đã qua được biên giới đến vùng tự do của nước bạn, chúng tôi vui mừng và phấn khởi vô hạn.
Chuyến công tác ấy để lại cho chúng tôi một kỷ niệm khá thú vị, khó quên. Câu chuyện như sau:
Hồi ấy bộ đội ta còn kham khổ thiếu thốn. Việc cung ứng dự phòng lương thực, nước uống mang theo khi sang Trung Quốc là vấn đề khó khăn, eo hẹp. Quan những ngày trèo đèo lội suối, tất cả đều khát, đói và mệt nhọc. Sang tới đất nước bạn, tới vùng Quảng Đông giáp Quảng Tây, khi đi qua ruộng dưa trên các cánh đồng lớn vắng vẻ của đồng bào dân tộc, chúng tôi đã tự động hái dưa hấu ăn để chống khát.
Sau đó, cấp chỉ huy biết liền ra lệnh cấm. Mệnh lệnh là: “Tuyết đối không được xâm phạm đến củ khoai, hạt lúa của người dân Trung Quốc”.
Lúc quay trở về, cấm lệnh tuy đã được phổ biến kỹ nhưng vì mang vác vũ khí nặng, đói và khát quá, một số anh em vẫn quỳ xuống chắp hai tay lạy xin đồng bào tha thứ, để rồi mỗi người hái một quả dưa ăn vội ăn vàng, kịp lên đường trước buổi tối trời.
Chuyến công tác xuất ngoại hoàn thành tốt đẹp. Ở nhà, các đơn vị trong sư đoàn đang khẩn trương học tập kỹ thuật, chiến thuật, sử dụng vũ khí, khí tài mới được trang bị. Lúc này, toàn quân đang phát động phong trào “Rèn cán, chỉnh quân”, một đợt học tập chính trị sâu rộng và một buổi diễn tập thao trường sôi động. Khi đó tôi mới là cán bộ trung đội, về sau được đề bạt lên chỉ huy đại đội cấp phó, chuẩn bị tham gia chiến dịch Biên Giới.
Năm 1950, gần 5 năm ta thực hiện chống Pháp bằng chiến tranh du kích với những trận chiến nhỏ, diễn ra chủ yếu là chống càn quét, đánh phá các cuộc hành quân chiến thuật của giặc. Đến nay lực lượng ta đã đủ mạnh để có thể tổ chức những chiến dịch tiến công quân sự lớn trên cả ba miền đất nước.
Viên tướng Đờ Tát-si-nhi (De Lattre Tassigni) sang Việt Nam thực hiện âm mưu và thủ đoạn quân sự mới nhằm tiêu diệt lực lượng kháng chiến của chúng ta. Chúng xây dựng nguỵ quân, củng cố nguỵ quyền. Tăng cường hành quân càn quét ở khắp ba vùng đất nước. Chúng mở rộng vùng chiếm đóng, xây dựng đồn bốt, boong ke kiên cố làm bàn đạp và lập căn cứ tiến công Cách mạng. Xây dựng và sử dụng các binh đoàn cơ động chủ lực. Dựa vào sự viện trợ của Đế quốc Mỹ, thực dân Pháp, lập kế hoạch bình định Việt Nam trong vòng 18 tháng.
Chúng củng cố những vùng chiếm đóng quan trọng ở đồng bằng Bắc Bộ, Trung bộ và Nam bộ. Hành quân lên hướng Tây Nguyên và Trung, Hạ Lào. Xây dựng trục căn cứ ở Thượng Lào và Tây Bắc. Ở phía Bắc, chúng đưa lực lượng cơ động tinh nhuệ lên kiểm soát vòng cung biên giới Việt - Trung.
Tháng 6 năm 1950, sau khi lực lượng và chuẩn bị chiến trường, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên Giới nhằm mục đích:
- Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch.
- Nối liền đường giao thông quan trọng với Trung Quốc và khối dân chủ tiến bộ cùng Liên Bang Xô Viết, tạo ra hậu phương chính trị vững chắc cho Cách mạng Việt Nam.
- Mở rộng và củng cố vững chắc vùng căn cứ địa Việt Bắc.
Đây là một chiến dịch được tiến hành với nhịp độ khẩn trương, ráo riết, được Trung ương Đảng và bộ Tổng tư lệnh đặc biệt quan tâm.
Một hôm, dân công và bộ đội thấy có nhiều tốp cán bộ đi ngựa rẽ vào một xóm nhỏ trong vùng Quảng Yên… Tối hôm ấy một tin loan báo rất nhanh khắp các đơn vị:
“Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp tới thăm Trung đoàn 88”
Cuộc viếng thăm của Đại tướng đối với cán bộ, chiến sỹ đơn vị tôi là một niềm vinh dự, mang lại một nguồn động viên mạnh mẽ. Đại đội của tôi cũng như toàn thể cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 88 vô cùng phấn khởi, cảm khích! Đồng chí Tổng tư lệnh ân cần thăm hỏi cán bộ chiến sỹ rồi kiểm tra cặn kẽ việc chuẩn bị tư tưởng, sẵn sàng chiến đấu. Đồng chí thân mật, vui vẻ hỏi mọi người: “Đã chuẩn bị kỹ chưa?”.
Sau đó đồng chí thông báo cho biết:
- Hồ Chủ Tịch đã ra lệnh cho quân ta “Chỉ có thắng - không cho thua”. Tổng Quân uỷ sẽ trực tiếp chỉ đạo chiến dịch.
Các chiến sỹ đại đội tôi (Đại đội Tô Văn) hoan hô nồng nhiệt nhiều lần, khi được nghe Đại tướng cho biết tin này. Mấy ngày sau lại có tin loan truyền trong đơn vị, làm xôn xao náo nức tình cảm của chiến sỹ khắp Đại đoàn. Ấy là tin “Bác Hồ cùng đi chiến dịch!”. Đối với chúng tôi, đó cũng là lần đầu tiên được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngay trên thềm chiến dịch Biên Giới năm 1950, ở trong hàng quân xung kích của Trung đoàn 88 lừng danh!
Đại đoàn 308 chúng tôi bấy giờ là lực lượng nòng cốt, cùng Trung đoàn 209, Trung đoàn 174, tiến công giải phóng biên giới. Mở màn chiến dịch Đông Khê, một cứ điểm phòng thủ mạnh của địch. Trận đánh kéo dài, qua một ngày một đêm mới kết thúc. Hồi bấy giờ Trung đoàn 209, Trung đoàn 174 đánh chủ công ở Đông Khê. Đại đoàn 308 đánh phối hợp, chủ yếu đánh đoạn đường chiến lược nối Đông Khê - Thất Khê - Cao Bằng (đường số 4)
Lực lượng quân địch vùng biên giới phía Bắc gồm có hai binh đoàn cơ động. Binh đoàn Lơ Pa-giơ (Le Page) và binh đoàn Sác-tông (Charton) cùng với các lữ đoàn thiết giáp và một số đơn vị cấp tiểu đoàn lính Âu - Phi cơ động. Phần lớn quân giặc trên chiến trường này là quân tinh nhuệ. Nhiều sỹ quan binh lính của chúng từng tham chiến ở Bắc Phi và Châu Âu trong thế chiến thứ 2. Một số đơn vị lính lê dương gồm người Tuy-ni-di, Ma -rốc, Sê-nê-gan và An-ge-ri khét tiếng hiếu chiến. Thực dân Pháp sử dụng chúng như những quân bài xung kích, làm con dao nhọn và bia đỡ đạn trong các trận đánh quan trọng, giáp chiến sinh tử với quân ta. Dù như thế, quân ta vẫn dũng cảm xông pha trên các trận địa quyết chiến tiêu diệt địch. Sau khi Đông Khê thất thủ chúng ta tiến đánh Thất Khê nhằm giải phóng ba tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn.
| Đêm 18 tháng 9 năm 1950, Trung đoàn 209 dưới sự chỉ huy của đồng chí Lê Trọng Tấn, Trần Độ; Trung đoàn 174 dưới sự chỉ huy của đồng chí Đặng Văn Việt, Chu Huy Mân đã tiêu diệt cứ điểm Đông Khê, tiêu diệt viện binh. Phòng tuyến số 4 của địch bị phá vỡ một mảng nghiêm trọng. Bị thất thủ tại căn cứ Đông Khê và Thất Khê, binh đoàn cơ động chủ lực địch chiếm đóng các căn cứ đồn bốt ở Lạng Sơn, Cao Bằng bị ta tiêu diệt và tháo chạy. Đại đoàn 308 làm nhiệm vụ đánh địch cứu viện Đông Khê. Tôi không thể quên những vất vả gian nan khi chờ đánh viện binh của Pháp. Đói cơm. Mệt mỏi. Rối ruôt. Một câu hỏi lớn đặt ra : Địch có đến không? Đồng chí Võ Nguyên Giáp báo cáo Bác Hồ. Bác quyết định chờ. Và địch đã đến. 308 diệt địch gọn ở Trọc Ngà, đập tan cụm phòng ngự ở Khâu Lương. Tổ chức cuộc vận động truy kích binh đoàn Lơ-pa-giơ trên đường số 4. Cùng lúc thị xã Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn được giải phóng. Quân ta ào ạt chiếm lĩnh trận địa và các căn cứ đồn bốt của thực dân Pháp, nơi chúng đã dày công xây dựng phòng thủ kiên cố trên tuyến biên giới. Tôi vẫn nhớ kỷ niệm sôi động, vui tếu của lính Vệ quốc đoàn, khi chiến thắng quân thù lúc đó còn ở độ tuổi thanh niên, thật tươi sáng, hồn nhiên, dũng mãnh, vô tư. Sau khi chiếm được đồn giặc, bọn chúng tôi cùng nhau thu chiến lợi phẩm và làm công tác thu dọn chiến trường. Một số anh em thả cửa mà ăn đồ hộp và bơ sữa của giặc. Một số thích ăn kem hộp. Thích quá anh em ăn quá đà. Một số ăn nhằm thuốc đánh răng, bị phồng cả môi, miệng, nói không ra lời. Một số biết uống rượu, lôi những thùng rượu vang đỏ của Tây ra cứ thế mà uống, say bí tỉ, đi lại khật khưỡng, chếnh choáng… Chiến dịch biên giới kéo dài hàng tháng và kết thúc thắng lợi. Riêng trận đánh đồn Đông Khê mãi mãi khắc sâu vào tiềm thức của cán bộ chiến sỹ ta. Nó có một vị trí đặc biệt trong lịch sử quân sự Cách mạng Việt Nam về “Một trận đánh công kiên cứ điểm phòng thủ vững chắc của địch”. Ở thời điểm đó, Đông Khê là một vị trí chiến lược then chốt và quan trọng của địch nằm trong mắt xích các căn cứ chiếm đóng phòng thủ biên giới. Mất Đông Khê là mất Cao Bằng, Lạng Sơn. Chính vì vậy mà quân địch bố phòng ở đây rất kiên cố, vững chắc. Đánh Đông Khê và Thất Khê, lần đầu tiên quân đội ta tổ chức một chiến dịch tiến công vào các cứ điểm phòng thủ kiên cố mang dạng tập đoàn (ở cấp thấp) và đã giải quyết thành công trận công kiên có ý nghĩa quyết định này. Bộ đội chủ lực của chúng ta đã thu được thắng lợi trọn vẹn. Hồi đó, Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương đặc biết quan tâm đến những trận đánh ở hai cứ điểm nói trên, đã cử cán bộ phải viên trực tiếp xuống chỉ đạo chiến dịch. Chúng ta ai cũng còn nhớ, đích thân Bác Hồ, vị lãnh tụ tối cao, là người thống soái của quân đội ta đã đích thân lên tận Đông Khê, trực tiếp thị sát vị trí và cách bố phòng đồn địch trước giờ quân ta xuất kích. Hình ảnh của Bác Hồ ở Đông Khê trong chiến dịch biên giới năm 1950 mãi mãi in sâu trong tâm hồn, ký ức của cán bộ, chiến sỹ quân đội ta. Chúng ta đặc biệt cám ơn một nhiếp ảnh gia đã ghi lại được khoảnh khắc Hồ Chủ Tịch ngồi ở đài quan sát trên núi Báo Đông nhìn toàn cảnh Đông Khê trước giờ nổ súng. Tấm ảnh đó vừa cụ thể vừa có tầm khái quát rất lớn, thể hiện chủ đề Hồ Chủ Tịch là “người Cha thân yêu của lực lượng vũ trang Cách mạng Việt Nam”. Và cũng ở nơi này, Bác đã xúc động làm bài thơ tứ tuyệt để đời cho con cháu : Chống gậy lên non xem trận địa Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu Thề diệt xâm lăng lũ sói cày. Nguyên văn chữ Hán : Huề trượng đăng sơn quan trận địa Vạn trùng vân ủng vạn trùng sơn. Tam quân tỳ hổ thôn Ngưu Đẩu Thệ diệt sài lang xâm lược quân. Đại đoàn 308, Trung đoàn 209, Trung đoàn 174 đã lập công vẻ vang, rất xứng đáng với lòng tin yêu của Bác. Chiến thắng biên giới đã mở ra một chặng đường mới cho Cách mạng Việt Nam. Từ đây, căn cứ Cách mạng Việt Nam được nối liền với hậu phương lớn hùng cường là Trung Quốc, Liên Xô và hệ thống Xã hội chủ nghĩa. Đó là ý nghĩa chính trị quan trọng và to lớn, có tác động sống còn đối với chúng ta bây giờ. Sau chiến thắng Biên Giới, quân đội ta trưởng thành thêm một bước cả về lượng và cả về chất. Đường lối chiến tranh và các chiến lược quân sự của chúng ta cũng đang chuyển sang một thời kỳ mới. Thời kỳ của chiến lược “Kháng chiến cầm cự và tiếp tục trường kỳ”. Chúng tôi, trong những bộ quân phục mới, đầy đủ, chỉnh tề và tươm tất hơn, trang bị thiết yếu của người lính được cải thiện rõ rệt, lại hiên ngang bước tiếp cuộc hành quân chiến đấu. Cuối năm 1950, tạm thời xa Việt Bắc, chúng tôi về trung du. Đông - Xuân 1950 - 1951, một bộ phận của Đại đoàn 308 cùng một số đơn vị thuộc Đại đoàn 312 về lập thế trận đánh giặc ở trung du Bắc Bộ. Quân đội ta từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến xây dựng các vùng chiến khu, lấy núi rừng Tây Bắc, Việt Bắc làm căn cứ. Ở Trung Bộ và Nam Bộ cũng dựa vào địa hình rừng núi mà thành lập nhiều chiến khu du kích. Đên bây giờ, sau chiến thắng Biên Giới, tình hình đã khác. Quân ta nhanh chóng trưởng thành, lớn mạnh mau lẹ, có đủ điều kiện đáp ứng những yêu cầu về chiến lược và chiến thuật quân sự của thời kỳ mới. Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng đã cho phép chuyển quân về trung du trực tiếp tham chiến, tiến công quân địch, mở rộng vùng giải phóng, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch, bao vây, chia cắt cô lập và uy hiếp chúng ngay tại vùng chiến trường do chúng chiếm giữ. chúng ta quyết phá tan kế hoạch “Bình định” của tướng Đờ-lát -đờ Tát-si-nhi và bộ chỉ huy xâm lược Pháp; quyết bẻ gẫy, đập tan các cuộc hành quân chiến thuật và chiến lược của chúng. Năm 1951, trong chiến dịch Hà - Nam - Ninh, đơn vị tôi trực tiếp đánh đồn giặc ở chùa Cao, đồn Non Nước (Ninh Bình). Lúc bấy giờ tôi là cán bộ đại đội phụ trách cáo mũi “Dao Nhọn”, tiến công trung tâm đồn giặc. Những trận đánh ở chùa Cao và trên núi Non Nước là những trận đánh táo bạo, bất ngờ, mưu trí, dũng cảm, mau le. Sau khi bọc phá mở cửa, quân ta khống chế hoả lực địch từ các miệng súng, hầm lô cốt địch và xung kích ào vào, lựu đạn cầm tay, lưỡi lê tuốt sẵn. Cuộc xung phong đánh giáp lá cà ác liệt diễn ra trong bóng tối mờ ảo, loé anh sáng xanh lè của lưỡi lê và đỏ rực của lửa đạn, những ánh chớp loé khi bọc phá và lựu đạn nổ. Lo nhất khi đánh địch ở đồng bằng Bắc Bộ là lúc đánh xong rồi rút. Ban ngày, đồng không mông quạnh. Bộ đội phải dấu mình dưới gốc lúa chiêm, nghe rõ tiếng “xà lù” của bọn lính Âu Phi dàn quân phản kích. Đối với cá nhân tôi, sau Đông Khê, những ngày đêm ác chiến lại đến với chùa Cao, đồn Pheo, giằng co nhau với quân thù trong lửa đạn. Tuổi trẻ chúng tôi hồi ấy đạp bằng chông gai, xem thường máu lửa, núi Non Nước còn ghi lại hình ảnh đồng chí chiến sỹ sư đoàn 308 Giáp Văn Khương gan dạ, mưu trí, thông minh, mà sau này anh được Bác Hồ gọi là “Chiến sỹ thi đua, anh dũng tuyệt vời”. Rất nhiều cán bộ chiến sỹ thuộc sư đoàn đã tham gia chiến đấu ngày ấy cùng tôi, hiện vẫn còn sống như đồng chí Thái Dũng, Trung đoàn trưởng; đồng chí Quốc Bảo, Chính uỷ; đồng chí Nam Hà, Trung đoàn phó. (khi đánh Điện Biên Phủ, anh là Trung đoàn trưởng, chỉ huy Trung đoàn 102) có đồng chí Vũ Yên, đồng chí Sơn Hùng ở Trung đoàn 36. Sau khi quân ta về Trung du trực tiếp công đồn diệt giặc ngay tại “vùng hậu phương” của chúng, chiến tranh du kích lan rộng ra khắp vùng, từ hữu ngạn để tả ngạn sông Chiến dịch Hòa Bình - đường số 6 kết thúc thắng lợi,cuối năm 1952 chúng ta đã mở thong tuyến bàn đạp nối liền với đồng bằng Bắc Bộ với chiến trường Tây Bắc rộng lớn.Từ đó,quân ta tiến lên Tây Bắc và chiến đấu trên vùng chiến trường Thượng Lào là vùng xung yếu về mặt chiến lược của giặc Pháp. |


