Anh hùng Lực lượng vũ trang

cuộc đời và sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của người chiến sỹ cộng sản Nguyễn Thị Minh Khai

Nghệ An17/09/2026Xã Diễn Châu (Đoàn xã Diễn Châu)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
cuộc đời và sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của người chiến sỹ cộng sản Nguyễn Thị Minh Khai

Nguyễn Thị Minh Khai (1910 – 1941) là nữ chiến sĩ cộng sản tiền bối, một trong những người lãnh đạo xuất sắc của Đảng Cộng sản Đông Dương trong giai đoạn 1930 – 1940. Với 31 năm tuổi đời và 15 năm hoạt động cách mạng liên tục, bà là biểu tượng của tinh thần kiên trung, bất khuất, hiến dâng trọn vẹn tuổi thanh xuân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng phụ nữ Việt Nam.

1. Thời niên thiếu và sự giác ngộ cách mạng (1910 – 1929)

  • Xuất thân: Bà tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh ngày 30/9/1910 (một số tài liệu ghi ngày 1/11/1910) tại xã Vĩnh Yên, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Bà sinh ra trong một gia đình công chức nhỏ; cha làm nhân viên hỏa xa, mẹ làm nghề buôn bán nhỏ. em gái bà là Nguyễn Thị Quang Thái (vợ đầu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp) cũng là một chiến sĩ cách mạng kiên trung.

  • Giác ngộ: Năm 1919, bà theo học chữ Quốc ngữ tại Vinh. Lớn lên tại mảnh đất Nghệ Tĩnh giàu truyền thống yêu nước, lại được sự dìu dắt trực tiếp của các thầy giáo như Trần Phú (sau này là Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng) tại trường Tiểu học Cao Xuân Dục, bà đã sớm hun đúc tinh thần yêu nước và căm thù giặc sâu sắc.

  • Bước đầu hoạt động: Mùa hè năm 1927, khi mới 17 tuổi, bà gia nhập Hội Hưng Nam (sau đổi tên thành Tân Việt Cách mạng Đảng) và nhanh chóng trở thành ủy viên Ban Chấp hành đại tổ phụ trách công tác vận động phụ nữ tại Vinh - Bến Thủy. Năm 1929, bà chính thức thoát ly gia đình để đi hoạt động bí mật.

  • 2. Trở thành đảng viên Cộng sản và hoạt động quốc tế (1930 – 1936)

    • Gia nhập Đảng: Đầu năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, bà trở thành một trong những đảng viên lớp đầu tiên, phụ trách công tác tuyên truyền, huấn luyện công nhân tại khu vực Trường Thi, Bến Thủy.

  • Hoạt động tại nước ngoài:

    • Năm 1930, bà được tổ chức cử sang Hương Cảng (Hồng Kông), làm việc tại Văn phòng Chi nhánh Đông Phương bộ của Quốc tế Cộng sản bên cạnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tại đây, bà nỗ lực tự học và sử dụng thành thạo tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Trung Quốc.

  • Giai đoạn 1931 – 1934, bà bị mật thám Anh rồi chính quyền Quảng Châu bắt giam. Dù bị tra tấn dã man, bà vẫn giữ vững khí tiết cách mạng, kiên quyết không khai báo.

  • Sau khi ra tù, bà sang Thượng Hải rồi được cử đi học tại Đại học Phương Đông (Liên Xô). Tại Moscow năm 1934, bà kết hôn với đồng chí Lê Hồng Phong.

  • Dấu ấn tại Đại hội Quốc tế Cộng sản VII (1935): Đại diện cho Đảng Cộng sản Đông Dương, Nguyễn Thị Minh Khai là người phụ nữ Việt Nam và phương Đông đầu tiên bước lên diễn đàn Quốc tế Cộng sản cất tiếng nói dõng dạc vạch trần tội ác thực dân Pháp và khẳng định vai trò to lớn của phụ nữ Đông Dương trong sự nghiệp giải phóng.

  • 3. Lãnh đạo phong trào đấu tranh tại Nam Kỳ (1936 – 1940)

    • Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn: Năm 1936, bà được phân công về nước hoạt động, tham gia Xứ ủy Nam Kỳ và đảm nhiệm cương vị Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn.

  • Chỉ đạo phong trào: Bà đã cùng tập thể Xứ ủy bám sát cơ sở, lãnh đạo phong trào đấu tranh dân chủ công khai của quần chúng chống thực dân, đòi dân sinh dân chủ diễn ra sôi nổi tại Nam Kỳ. Năm 1939, bà sinh con gái đầu lòng là Lê Nguyễn Hồng Minh trong hoàn cảnh hoạt động vô cùng gian khổ.

  • Chuẩn bị khởi nghĩa: Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng. Bà cùng Xứ ủy Nam Kỳ chuyển vào hoạt động bí mật, tích cực chuẩn bị lực lượng cho cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ. [1, 2]

  • 4. Bị bắt, kiên cường bất khuất trong ngục tù và hy sinh (1940 – 1941)

    • Sa vào tay giặc: Ngày 30/7/1940, ngay sau khi họp hội nghị Xứ ủy Nam Kỳ, Nguyễn Thị Minh Khai bị thực dân Pháp bắt giữ.

  • Khí tiết trong Khám Lớn Sài Gòn: Giặc Pháp giam cầm bà tại Khám Lớn Sài Gòn và dùng mọi đòn tra tấn tàn khốc nhất. Tuy nhiên, chúng không thể lay chuyển được ý chí sắt đá của bà. Trong tù, bà vẫn tìm cách bắt liên lạc với bên ngoài để tiếp tục chỉ đạo phong trào cách mạng.

  • Hy sinh anh dũng: Thực dân Pháp đổ lỗi cho bà và các đồng chí lãnh đạo là những người khởi xướng cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ (11/1940). Chúng kết án tử hình bà.

  • Sáng ngày 28 tháng 8 năm 1941, Nguyễn Thị Minh Khai cùng các đồng chí như Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần... đã anh dũng hy sinh trước họng súng quân thù tại pháp trường Ngã Ba Giồng (Hóc Môn). Trước khi ngã xuống, bà đã giật tấm băng đen bịt mắt và hô vang các khẩu hiệu cách mạng, khẳng định niềm tin tất thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc.


  • Tấm gương sáng ngời cho hậu thế

    Nguyễn Thị Minh Khai ngã xuống khi mới 31 tuổi đời. Cuộc đời tuy ngắn ngủi nhưng trọn vẹn lý tưởng cách mạng của bà đã trở thành ngọn đuốc sáng, là niềm tự hào của phụ nữ Việt Nam và toàn thể dân tộc. Để tri ân những cống hiến lớn lao đó, tên của bà ngày nay được đặt cho nhiều đường phố, trường học lớn trên khắp đất nước

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn