Bài viết

Cuộc vượt ngục kỳ diệu (1)

Năm 1959 là một mốc khó khăn trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng Nhân dân Lào. Ngày 26 tháng 7 năm 1959, bọn phản động phái hữu đã bắt giam 16 cán bộ ưu tú của Đảng Nhân dân Lào và Mặt trận Lào yêu nước, đứng đầu là Hoàng thân Xuphanuvông. Sau 300 ngày bị giam giữ, chỉ trong một đêm 23 rạng ngày 24 tháng 5 năm 1960, cả đoàn tù cùng một tiểu đội hiến binh canh gác đã biến mất khỏi trại giam Phôn Khênh làm cho bọn phản động phái hữu hất sức kinh ngạc, bàng hoàng. Gần 50 năm qua

Lai Châu02/07/2026phan dĩ (xã sìn hồ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Đất nước Lào trải dài trên 1.000km nằm bên tả ngạn dòng sông Mê Kông, dựa lưng vào dải Trường Sơn hùng vĩ, trước thế kỷ XVIII đã từng là một vương quốc cường thịnh ở khu vực. Chầu Phạ Ngừm - vị vua có công thống nhất đất nước, lập vương quốc đầu tiên trên toàn bộ lãnh thổ này từ năm 1353, đã đặt tên nước là Lạn Xạng (Triệu Voi). Đó là nơi tụ hội của 49 bộ tộc, trong đó bộ tộc Lào - con cháu của Khun Bulôm và Khunlò di cư từ phía nam Trung Quốc xuống từ đầu thế kỷ VI - là bộ tộc lớn hơn cả, có số dân chiếm hơn 1/3 dân số cả nước. Tất cả các bộ tộc trên cùng sống hiền hòa với nhau, cùng chung cảnh ngộ, cùng chung một nền văn hóa có bản sắc riêng của Lào, thấm nhuần đạo đức nhân ái từ bi vị tha của Phật giáo. Họ đã bao đời chung lưng đấu cật xây dựng nên những đô thành, đô thị sầm uất như cố đô Luông Pha Băng êm đềm, thủ đô Viên Chăn náo nhiệt ngày nay, với những công trình cổ kính nổi tiếng đồ sộ và độc đáo như quần thể tháp chùa Thạt Luổng, Sisakệt, Phạ Kẹo (Viên Chăn), Xiêng Thong (Luông Pha Băng), That Inh Hằng (Khăm Muộn), Vặt Phu (Chăm Pa Xắc)... với những cánh đồng phì nhiêu bát ngát nằm giữa các thung lũng hay dọc các triền sông Mê Kông, sông Nặm Bạc, sông Nặm Ngừm, sông Nặm Thơn, sông Sêbăngphay, Sêbănghiêng, Sêđôn, sông Ba Xắc, cùng với những bản Mường xen kẽ nương rẫy bạt ngàn trên các dãy núi rừng trùng điệp từ Bắc đến Nam, với biết bao thắng cảnh làm ngây ngất lòng người như Cánh đồng Chum (Thượng Lào), Thác Khôn (Hạ Lào), Tát Sét (Trung Lào)...


Sống trên dải đất không có bờ biển lại bị bao quanh bởi 5 nước láng giềng to lớn hơn mình nhiều lần, nhân dân các bộ tộc Lào đã phải trải qua những chặng đường dài chiến đấu chống ngoại xâm để dựng nước và giữ nước, trong đó có 3 thế kỷ (thế kỷ XV, XVI, XVII) liên tiếp nhiều lần đánh bại và đẩy lùi các đạo quân xâm lược tàn bạo của phong kiến Xiêm La, Diến Điện và đã hơn 3 lần phải bắt tay xây dựng lại kinh đô Viên Chăn, Luông Pha Băng bị đốt phá, hủy diệt, san bằng.


Sau khi xâm chiếm xong Việt Nam và Campuchia, thực dân Pháp cũng hoàn thành công cuộc đặt ách đô hộ ở Lào từ năm 1893, nhưng chúng đã phải liên miên đối phó với các cuộc nổi dậy của nhân dân các bộ tộc Lào chống chính quyền thực dân, nổi bật là các phong trào nổi dậy của Pho Cạ Đuột Phum Mi Bun (1901-1907), Kôm Ma Đăm (1910-1934), Chau Pha Pắt Chay (1919-1921), Khu Khăm (1920), v.v...


Từ khi có Đảng Cộng sản Đông Dương - tiền thân của Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay, nhân dân Lào đã dần dần tập hợp dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, kế tục truyền thống kiên cường bất khuất của cha ông, đã không ngừng đấu tranh giành lại độc lập tự do. Đồng thời với Cách mạng tháng Tám thành công ở Việt Nam, nhân dân Lào đã nổi dậy giành chính quyền từ tay phát xít Nhật, lập Chính phủ Itsala tuyên bố nền độc lập của nước Lào ngày 12 tháng 10 năm 1945. Nhưng Pháp đã đem quân trở lại đặt ách thống trị ở 3 nước Đông Dương một lần nữa, nhân dân Lào cùng với nhân dân Việt Nam và Campuchia đã kề vai sát cánh tiến hành cuộc kháng chiến 9 năm kết thúc bằng Hiệp định Giơnevơ 1954. Lần đầu tiên nền độc lập của Lào được thừa nhận bằng một hiệp định quốc tế, lực lượng vũ trang kháng chiến cũng được thừa nhận với tên gọi là Lực lượng Pathét Lào và được tập kết về 2 tỉnh Sầm Nưa, Phông Saly ở phía bắc Lào. Nhưng đế quốc Mỹ đã nhảy vào thay thế Pháp thi hành chủ nghĩa thực dân kiểu mới, xây dựng ngụy quân, ngụy quyền Lào dưới cái vỏ độc lập, mưu toan xóa bỏ Hiệp định Giơnevơ 1954 về Lào, mở các đợt tiến công hòng xóa bở căn cứ 2 tỉnh tập kết của lực lượng Pathét Lào, tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng Lào.


Cuộc chiến đấu ngoan cường của quân dân hai tỉnh tập kết phía bắc được sự ủng hộ phối hợp đấu tranh chính trị của nhân dân ở 10 tỉnh còn lại, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Lào (thành lập ngày 21-3-1955) đã đập tan các cuộc tiến công đó của địch. Cuộc đấu tranh quân sự - chính trị song song đó đã dẫn tới Hiệp định Viên Chăn ngày 22 tháng 10 năm 1957 với nội dung thỏa thuận giữa hai bên là: Thành lập chính phủ liên hiệp lần đầu tiên có lực lượng Pathét Lào tham gia, sửa đổi hiến pháp, tiến hành tổng tuyển cử bổ sung, mặt trận Neo Lào Hắc Xạt ra mắt hoạt động trên phạm vi toàn quốc, 2 tỉnh tập kết và 2 tiểu đoàn Pathét Lào trở về hòa hợp trong cộng đồng Vương quốc Lào.


Cuộc tổng tuyển cử bổ sung đã được tiến hành ngày 4 tháng 5 năm 1958 với thắng lợi vang dội của mặt trận Neo Lào Hắc Xạt và đồng minh của mình là lực lượng hòa bình trung lập (Neo Lào Hắc Xạt được 9 ghế, hòa bình trung lập được 4 ghế, cộng là 13 ghế trong 21 ghế nghị sĩ bổ sung, đặc biệt có một nghị sĩ nữ đầu tiên của nước Lào là bà Khămpheng Bupha, Hoàng thân Xuphanuvông ứng cử ở Viên Chăn đã trúng cử với số phiếu cao nhất). Với thắng lợi này, nhân dân toàn quốc Lào vui mừng khôn xiết và hy vọng rằng trên đất nước Triệu Voi tươi đẹp này tiếng súng sẽ ngừng nổ, máu xương sẽ ngừng đổ từ đây; cuộc sống thanh bình sẽ trở lại trong không khí hòa hợp dân tộc và dựng xây lại đất nước phồn vinh trong điệu múa và tiếng khèn lăm vông muôn thuở yên vui.


Nhưng Mỹ và lực lượng phái hữu tay sai của họ không cam tâm chịu thất bại, không chịu bó tay trước viễn cảnh không còn ai tin vào những lời lẽ chống cộng mị dân của họ, không chịu chấp nhận sự thất bại hiển nhiên là toàn dân Lào đã hướng niềm tin vào những lãnh tụ chân chính và ưu tú của họ, vào ngọn cờ của Mặt trận Lào yêu nước do Đảng Nhân dân Lào lãnh đạo.


Chúng đã lập tức phản ứng điên cuồng bằng hành động bạo lực trắng trợn chà đạp công lý, bất chấp dư luận. Hơn 2 tháng sau cuộc tổng tuyển cử, ngày 22 tháng 7 năm 1958, chúng lật đổ chính phủ liên hiệp, đẩy Thủ tướng Xuvănnạ Phumma đi làm Đại sứ ở Pháp; ngày 18 tháng 8 năm 1958, Phủi Sananikon lên làm thủ tướng lập chính phủ không có Pathét Lào tham gia, tuyên bố Hiệp định Giơnevơ 1954 hết hiệu lực, đình chỉ hoạt động của Quốc hội - thực chất là tước quyền của các nghị sĩ yêu nước, đình báo Lào Hắc Xạt, đóng cửa các trụ sở của mặt trận Neo Lào Hắc Xạt.


Năm 1959 trở thành năm cực kỳ đen tối đối với đất nước và nhân dân Lào. Ngày 11 tháng 5 năm 1959 Phủi Sananikon ra lệnh bao vây hòng tước vũ khí tiểu đoàn 2 Pathét Lào đóng tại Cánh đồng Chum (Xiêng Khoảng). Ngày 12 tháng 5 năm 1959 chúng cho cảnh sát bao vây nhà ở của các lãnh tụ và các nghị sĩ Neo Lào Hắc Xạt ở Viên Chăn. Đồng thời tiến hành một đợt càn quét khủng bố, bắt bớ tra tấn, bức hại các cán bộ và các cơ sở Neo Lào Hắc Xạt ở khắp các địa phương.


Trâng tráo hơn nữa trong âm mưu điệu hổ ly sơn rồi chặt đầu phong trào, ngày 26 tháng 7 năm 1959 Phủi Sananikon ra lệnh bắt giam đồng chí Xuphanuvông, các nghị sĩ và các nhà lãnh đạo, cán bộ của Neo Lào Hắc Xạt, tất cả là 16 đồng chí, gồm 7 nghị sĩ quốc hội Vương quốc, 9 ủy viên Trung ương Mặt trận Lào yêu nước, trong đó có 3 đồng chí sau này kế tiếp nhau làm Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (đồng chí Xuphanuvông, đồng chí Phummi Vongvichit, đồng chí Nủhắc Phumsavẳn).


Đó là bộ phận lãnh tụ cực kỳ quan trọng của cách mạng Lào, những cán bộ cốt cán ưu tú của Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Mặt trận Lào yêu nước (Neo Lào Hắc Xạt), những người con yêu quý dũng cảm của nhân dân Lào. Hành động bắt giam trái phép những đồng chí trên thể hiện bản chất hung bạo và lật lọng làm sửng sốt mọi người, còn bọn quan thầy và tay sai phản động phái hữu thì chắc mẩm rằng phong trào cách mạng Lào sẽ không còn ngóc đầu dậy được nữa.

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7580



WWW

Cuộc vượt ngục kỳ diệu« Trả lời #2 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2021, 10:07:54 pm »
Nhưng bọn phản động cực hữu Lào, được sự nuôi dưỡng và chỉ đạo của quan thầy đế quốc đã nhầm to: Chỉ sau 300 ngày bị giam giữ trong trại tù Phôn Khênh nằm trong khuôn viên Bộ Tổng tư lệnh quân đội Vương quốc, được canh gác nghiêm ngặt 24/24 giờ, bỗng chỉ trong một đêm 23 rạng ngày 24 tháng 5 năm 1960 cả đoàn tù 16 người cùng 1 tiểu đội lính hiến binh (quân cảnh) canh gác đã biến mất mà hàng chục năm sau kẻ địch cũng như công luận cũng vẫn coi đó là một hiện tượng kỳ lạ, chưa hiểu nổi cuộc vượt ngục - cuộc giải thoát lịch sử này đã được tiến hành bằng cách nào và đi con đường nào mà có thể thoát khỏi vòng vây trùng điệp và sự truy lùng gắt gao nhiều tháng trời ở mọi hướng của mọi lực lượng kẻ địch có trong tay, kể cả sử dụng lính nhảy dù thiện chiến chặn đầu, khóa đuôi mà vẫn không tìm ra một dấu vết nhỏ. Vào thời đó đã có tin đồn do sự đoán mò của bọn phản động và chúng dựa vào đó để che lấp tội ác và sự bất lực của chúng rằng "đã có một xe tải đón sẵn ở cổng trại giam để đưa tù nhân và lính gác chạy về hướng bắc theo đường số 10 lên dãy núi Phukhaukhoai cách Viên Chăn khoảng 80km đường chim bay, ở đó đã có trực thăng chờ sẵn để đón các vị về Hà Nội rồi"... Ngoài ra còn có những tin đồn thất thiệt khác, thậm chí sau này kể cả gần đây vẫn có những bài báo viết về sự kiện này nhưng chỉ mới phản ánh được phần nào sự thật, thậm chí có những chi tiết thiếu chuẩn xác, như có người viết "cuộc vượt ngục thành công là do tiểu đội lính gác tù được chính những người bị giam tuyên truyền giác ngộ nên đã mở cửa trại giam giải thoát” - đó chưa phải là toàn bộ sự thật. Sự thật là nếu không có chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của Trung ương Đảng nhân dân Lào, nếu không có sự chuẩn bị công phu tỉ mỉ của Tỉnh ủy Viên Chăn và đội ngũ cán bộ của tỉnh phối hợp với tổ công tác đặc biệt của Việt Nam phái sang hỗ trợ thì các vị lãnh đạo bị giam làm sao có thể tin và theo toán lính gác tù cùng trốn như thế được. Thậm chí ra khỏi trại giam rồi đoàn tù sẽ làm sao đi thoát khỏi vòng vây và sự lùng sục của hàng chục tiểu đoàn quân địch đóng ở nội thành và ngoại vi nếu không có sự phối hợp trong ngoài trại giam, giữa cơ sở nội thành với cán bộ ngoại thành tỉnh Viên Chăn và các địa phương đoàn tù sẽ đi qua, không có sự phối hợp với Trung ương, v.v... Tất cả đều đã được bài binh bố trận theo một phương án đã được bàn tính, điều chỉnh, bổ sung tỉ mỉ, liên tục trong 10 tháng trời, sử dụng hàng trăm cơ sở tin tức mật, cơ sở giao liên mật, bám sát mọi diễn biến của việc giam giữ, bố phòng trại giam và của cục diện chính trị - quân sự ở Viên Chăn cũng như ở trên đất nước Lào để đi đến quyết định giờ G chính xác và tổ chức thực hiện trọn vẹn cuộc giải thoát cũng như cuộc hành quân bí mật về căn cứ phía bắc mà không tốn một viên đạn, một giọt máu, hơn thế nữa lại vẫn giữ được tuyệt đối bí mật và tuyệt đối an toàn. Cho đến 3 năm sau ngày giải phóng toàn Lào, tại Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc Lào năm 1978, sự kiện trên mới được công bố thông qua việc phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho đồng chí Xiêng Xổm nguyên cán bộ của Tỉnh ủy Viên Chăn - người duy nhất đã đột nhập trại giam và dẫn đường cho đoàn tù về đến căn cứ an toàn của tỉnh ủy ở ngoại thành và bà mẹ Phăn, giao liên mật của Tỉnh ủy Viên Chăn.


Sự kiện đặc biệt này có thể coi là cuộc vượt ngục hay là cuộc giải thoát đều đúng cả, bởi lẽ: Nếu những người tù nhân và lính gác không đồng lòng nhất trí vượt ngục trốn ra thì dù có một binh đoàn lớn đến giải thoát cũng không thể thành công được. Ngược lại dù các tù nhân và lính gác có tài giỏi đến đâu cũng không thể tự mình vượt ngục thành công, nếu không có kế hoạch bài binh bố trận sẵn từ bên ngoài trại giam do Tỉnh ủy Viên Chăn chỉ đạo tổ chức thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng Nhân dân Lào với sự tham gia góp phần đắc lực của tổ công tác đặc biệt Việt Nam được phái sang giúp bạn kịp thời theo yêu cầu của bạn. Tổ công tác đã tham gia giúp bạn từ khi lập kế hoạch ban đầu cho đến khi thực hiện hoàn hảo kế hoạch, không phải là chỉ đi đón các đồng chí sau khi đã thoát ra tù. Tổ đã vượt Trường Sơn ra đi theo yêu cầu của Trung ương Đảng Nhân dân Lào ngay từ khi mới nghe tin địch giam lỏng tại gia đối với các nhà lãnh đạo Mặt trận yêu nước Lào. Tổ công tác Việt Nam đã hoàn thành tốt nhiệm vụ theo yêu cầu của lãnh đạo bạn, thực hiện đúng chỉ thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Đây là công việc liên quan đến vận mệnh quốc gia dân tộc bạn. Mọi việc do bạn Lào quyết định...”. Những công việc đó là truyền đạt được chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng Nhân dân Lào, điều tra, nghiên cứu tình hình địch cả trong và ngoài trại giam; làm tham mưu, đề xuất phương án giải thoát với Tỉnh ủy và Ban chỉ đạo của bạn; tổ chức đường dây liên lạc, giữ vững mạch máu liên lạc vô tuyến điện với Trung ương; tham gia cùng Ban chỉ đạo của bạn giải quyết các tình huống nảy sinh; đi hộ tống, bảo vệ Chủ tịch Xuphanuvông cùng đoàn đi bộ từ Viên Chăn xuyên qua 3 tỉnh về đến biên giới Việt - Lào tại Mường Thanh, Điện Biên Phủ; huấn luyện, đào tạo đặc công cho phía bạn... Tóm lại, đó là những khâu công tác khó khăn và phía bạn yêu cầu thì chúng tôi đảm nhận và đã hoàn thành xuất sắc, góp phần thực hiện hoàn hảo cuộc giải thoát. Những công việc đó là nhân tố góp phần không thể thiếu trong nguyên nhân tổng hợp dẫn đến thành công trọn vẹn của cuộc vượt ngục.


Trên hết, nguyên nhân cơ bản, sâu xa, có ý nghĩa quyết định nhất đối với thành công của cuộc giải thoát này chính là truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh ngoan cường hướng về chính nghĩa cách mạng của nhân dân các bộ tộc Lào, trong đó có anh em lính cảnh vệ Vương quốc đã được giác ngộ và hàng trăm cơ sở nhân dân nội, ngoại thành Viên Chăn và ở các căn cứ mà đoàn đi qua đã nuôi dưỡng, dẫn đường, làm giao liên, làm tai mắt nắm tin địch, chiến đấu đánh lạc hướng địch và bảo vệ, giữ bí mật an toàn tuyệt đối cho đoàn. Điều đó cũng nói lên tấm gương dũng cảm, mưu trí và uy tín rất cao của Chủ tịch Xuphanuvông và các nhà lãnh đạo của Đảng Nhân dân Lào, một nhân tố hết sức quan trọng dẫn đến thành công của cuộc vượt ngục nói riêng và của sự nghiệp đấu tranh lâu dài gian khổ để giải phóng các dân tộc Lào nói chung.


Cuộc vượt ngục lịch sử - cuộc giải cứu lãnh tụ kỳ diệu nói trên được diễn tả trung thực trong cuốn sách này là một nét son rực rỡ trong các trang sử vàng của truyền thống yêu nước, đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm của nhân dân các bộ tộc Lào, đồng thời còn là "một chiến công tiêu biểu của mối tình hữu nghị đoàn kết đặc biệt Lào - Việt" như lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đánh giá.


Nhưng sẽ là thiếu sót lớn nếu cuốn sách này chỉ diễn tả cuộc giải cứu các lãnh tụ cách mạng Lào cho đến khi kết thúc đưa các tù nhân thoát khỏi trại giam, mà không nói đến những sự kiện hệ quả, tác động, diễn biến hết sức quan trọng tiếp theo và gắn liền với cuộc vượt ngục lịch sử này. Đó là cuộc đảo chính của đại úy Koongle và lính dù Vương quốc ngày 9 tháng 8 năm 1960 (hơn 2 tháng sau cuộc vượt ngục). Đó là cuộc chiến đấu 7 ngày đêm anh dũng kiên cường trong nội thành Viên Chăn tháng 12 năm 1960 của quân đảo chính phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương của Mặt trận Lào yêu nước, có sự cố vấn và chi viện pháo binh của Việt Nam để bảo vệ chính phủ hợp pháp của Vương quốc do Hoàng thân Xuvănnạ Phumma làm thủ tướng. Đó là cuộc rút lui khỏi thành phố thủ đô bảo toàn được lực lượng để hành quân lên phía bắc đánh chiếm, giải phóng Cánh đồng Chum lần đầu tiên vào Tết dương lịch mồng 1 tháng 1 năm 1961. Cuốn sách này cũng sẽ diễn tả lại cuộc chiến đấu sôi động và quyết liệt đó tiếp theo sau cuộc vượt ngục lịch sử nói trên.


Nếu nói năm 1959 là năm đen tối của cách mạng Lào thì năm 1960 lại là một trong những trang sử vàng chói lọi của đất nước Lào. Thành công của cuộc giải cứu Chủ tịch Xuphanuvông và các nhà lãnh đạo Lào bị địch bắt giam gắn liền với những thắng lợi liên tiếp của công cuộc chuyển hướng chiến lược dưới sự lãnh đạo sáng suốt và dũng cảm của Đảng Nhân dân Lào, trong đó có sự kiện giải phóng Cánh đồng Chum, chẳng những phá vỡ mảng đầu tiên trong âm mưu chiến lược chiến tranh đặc biệt của bọn đế quốc ở Lào, chẳng những đã cứu vãn tình thế gay cấn của cách mạng Lào trước sự lật lọng hung bạo của địch, mà còn mở ra một cục diện mới ở Lào: cục diện hình thành 3 phái, trong đó phái trung lập yêu nước liên minh với phái Mặt trận Lào yêu nước, một cục diện so sánh lực lượng với lợi thế nghiêng hẳn về cách mạng Lào, tạo nên một đà mới cho cách mạng Lào tiếp tục tiến lên cho đến ngày toàn thắng: ngày 2 tháng 12 năm 1975 thành lập nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Cuộc vượt ngục kỳ diệu (1) | Câu chuyện thời hoa lửa