CUỐN NHẬT KÝ ĐÃ CÓ LỬA
Câu chuyện về Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm.
Một ngày giữa chiến trường Đức Phổ, Quảng Ngãi.
Những người lính Mỹ vừa tiến vào một bệnh xá đã được sơ tán vội vàng.
Người không còn ở đó.
Thương binh đã được đưa đi.
Chỉ còn lại một số giấy tờ, tài liệu và những vật dụng chưa kịp mang theo.
Theo thông lệ, những tài liệu không có giá trị tình báo sẽ bị tiêu hủy.
Một người lính Mỹ chuẩn bị đưa một cuốn sổ nhỏ vào lửa.
Nhưng người thông dịch Việt Nam đứng bên cạnh đã ngăn lại.
Anh nói:
“Đừng đốt cuốn sổ đó… trong đó đã có lửa!”
Cuốn sổ được giữ lại.
Không ai trong khoảnh khắc ấy có thể biết rằng 35 năm sau, những trang giấy nhỏ ấy sẽ trở thành một trong những cuốn nhật ký thời chiến nổi tiếng nhất Việt Nam.
Người viết nó là một nữ bác sĩ chưa đầy 28 tuổi.
Tên chị là Đặng Thùy Trâm.
Từ Hà Nội vào chiến trường
Đặng Thùy Trâm sinh ngày 26/11/1942 trong một gia đình trí thức có truyền thống về ngành y.
Chị tốt nghiệp Trường Đại học Y Hà Nội năm 1966.
Với một nữ bác sĩ trẻ ở thời điểm ấy, chị hoàn toàn có thể ở lại miền Bắc, làm việc trong một bệnh viện với những điều kiện tốt hơn rất nhiều.
Nhưng Đặng Thùy Trâm lựa chọn con đường khác.
Chị tình nguyện vào miền Nam.
Tháng 3/1967, chị đến chiến trường Quảng Ngãi và được phân công công tác tại Đức Phổ – một trong những địa bàn chiến tranh đặc biệt ác liệt.
Ở đó không có những phòng bệnh sạch sẽ.
Không có đầy đủ thuốc men.
Không có những phòng mổ với ánh đèn trắng và những thiết bị hiện đại như một bác sĩ được đào tạo chính quy từng biết.
Bệnh xá nằm giữa rừng.
Thương binh được đưa về trong những ngày chiến sự.
Có lúc vừa phẫu thuật xong lại phải chuẩn bị di chuyển vì máy bay và các cuộc càn quét.
Bệnh xá bị đánh phá, dựng lên rồi lại phải chuyển đi.
Trong hoàn cảnh ấy, Đặng Thùy Trâm vừa là bác sĩ, vừa là người chị, người đồng đội của những thương binh trẻ tuổi.
Có một bức ảnh chị từng tặng cho một thương binh tên Lưu Công Hào vào tháng 2/1968, sau khi chị tham gia cứu chữa cho ông.
Người thương binh ấy đã giữ bức ảnh suốt nhiều thập kỷ như một kỷ vật của cuộc đời mình.
Những điều không viết trong thư gửi mẹ
Ở Hà Nội, gia đình vẫn nhận được thư của Thùy Trâm.
Nhưng những bức thư gửi về nhà có một điều rất đặc biệt.
Chị gần như không kể hết sự khốc liệt mà mình đang trải qua.
Người thân sau này nhớ lại rằng trong thư, Thùy thường kể những chuyện nhẹ nhàng hơn, hỏi thăm gia đình, dặn các em chăm sóc bố mẹ và hẹn ngày trở về.
Có lẽ chị không muốn mẹ lo.
Những điều khốc liệt nhất, chị giữ lại trong một nơi khác.
Cuốn nhật ký.
Ở đó là một Đặng Thùy Trâm khác.
Có những ca thương binh nặng mà một bác sĩ biết rõ rằng với thuốc men và phương tiện của bệnh xá tiền phương, mình gần như bất lực.
Có những đêm máy bay quần thảo ngay trên đầu.
Có những lần bệnh xá phải di chuyển.
Có đồng đội hôm qua còn nói chuyện, hôm nay đã không còn nữa.
Có cả nỗi cô đơn, nỗi nhớ Hà Nội, nhớ gia đình, nhớ mẹ.
Nhưng bên cạnh tất cả những điều ấy vẫn là một niềm tin rất mãnh liệt vào ngày hòa bình.
Đặng Thùy Trâm từng mong một điều rất bình dị:
Ngày chiến tranh kết thúc, chị sẽ trở về.
Không cần một sự ưu tiên đặc biệt.
Không cần phần thưởng.
Điều người nữ bác sĩ trẻ mong mỏi nhất chỉ là được trở về với mẹ.
Những ngày cuối cùng
Tháng 6/1970, tình hình tại Đức Phổ trở nên đặc biệt căng thẳng.
Ngày 2/6, bệnh xá bị đánh trúng. Có người hy sinh, trong đó có cả những thương binh vừa trải qua phẫu thuật.
Những ngày sau đó, sức ép tiếp tục tăng lên.
Thùy Trâm vẫn ở lại với thương binh.
Ngày 10/6, chị nhận được thư mẹ.
Giữa những ngày mà hiểm nguy đang tới rất gần, những dòng viết của người con gái xa nhà lại hướng về Hà Nội.
Chị hiểu mẹ lo.
Chị cũng hiểu bản thân mình có thể không trở về.
Nhưng nỗi nhớ nhà không làm chị rời vị trí.
Đến giữa tháng 6, tình hình càng gay go. Máy bay liên tục hoạt động, mọi người phải cảnh giới gần như suốt ngày.
Ngày 20/6, lương thực của đơn vị chỉ còn đủ cho một bữa.
Những người đang ở bệnh xá phải tính cách tìm thức ăn cho thương binh.
Chỉ hai ngày sau, 22/6/1970, bác sĩ Đặng Thùy Trâm hy sinh tại Đức Phổ.
Chị chưa đầy 28 tuổi.
Những trang nhật ký dừng lại.
Người viết chúng không bao giờ được trở về căn nhà ở Hà Nội.
Không được gặp lại mẹ.
Không được nhìn thấy ngày 30/4/1975.
Nhưng câu chuyện của những cuốn sổ ấy thì chưa kết thúc.
“Đừng đốt…”
Trong một lần lực lượng Mỹ tiến vào khu vực bệnh xá, những tài liệu còn lại được thu gom.
Trong số đó có những cuốn sổ viết bằng tiếng Việt.
Một sĩ quan quân báo Mỹ tên Frederic Whitehurst có trong tay những trang nhật ký ấy.
Những tài liệu không có giá trị quân sự dự kiến bị tiêu hủy.
Nhưng người thông dịch Nguyễn Trung Hiếu đọc những dòng chữ trong cuốn sổ và nhận ra rằng đây không phải một thứ tài liệu thông thường.
Anh ngăn Whitehurst đốt nó:
“Đừng đốt cuốn sổ đó… trong đó đã có lửa!”
Frederic Whitehurst nghe lời.
Cuốn nhật ký thoát khỏi ngọn lửa.
Rồi chiến tranh kết thúc.
Người lính Mỹ trở về nước.
Nhưng anh mang những cuốn sổ của người nữ bác sĩ Việt Nam theo mình.
35 năm
Một năm.
Mười năm.
Hai mươi năm.
Rồi ba mươi năm.
Cuốn nhật ký vẫn ở nước Mỹ.
Frederic Whitehurst vẫn giữ nó.
Theo các tư liệu được công bố sau này, ông cùng những người liên quan đã nhiều lần tìm cách xác định gia đình của người nữ bác sĩ có tên trong những trang viết.
Cuộc tìm kiếm kéo dài hàng chục năm.
Một trong những đầu mối còn sót lại là thông tin về người cha của Thùy Trâm.
Cuối cùng, việc tìm kiếm có kết quả.
Năm 2005, đúng 35 năm sau khi người nữ bác sĩ hy sinh, những trang nhật ký bắt đầu hành trình trở về Việt Nam.
Ngày 28/4/2005, những hình ảnh và nội dung được số hóa của hai cuốn nhật ký được đưa đến gia đình Đặng Thùy Trâm tại Hà Nội.
Chỉ còn hai ngày nữa là kỷ niệm 30 năm ngày đất nước thống nhất.
Người mẹ đã chờ con suốt những năm chiến tranh giờ đây nhận lại những dòng chữ của con gái.
Con người không trở về.
Nhưng những suy nghĩ, những nỗi nhớ, những ngày sống trong bệnh xá, những thương binh mà chị từng chăm sóc và cả ước mơ được trở về nhà – tất cả lại hiện lên qua những trang giấy.
Từ cuốn sổ cá nhân đến ký ức của một thế hệ
Cùng năm 2005, “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” được xuất bản.
Điều đặc biệt là cuốn sách không chỉ được những người từng trải qua chiến tranh tìm đọc.
Rất nhiều người trẻ sinh ra khi chiến tranh đã kết thúc cũng đọc nó.
Sau đó, cuốn nhật ký được giới thiệu và xuất bản ở nhiều quốc gia, trở thành một trong những tác phẩm nhật ký chiến tranh Việt Nam được biết đến rộng rãi trên thế giới.
Năm 2006, Nhà nước truy tặng liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Nhưng có lẽ điều đặc biệt nhất trong câu chuyện của chị không nằm ở danh hiệu.
Nó nằm ở số phận của một cuốn sổ.
Một nữ bác sĩ Việt Nam viết nó giữa chiến trường.
Một người thông dịch Việt Nam phía bên kia chiến tuyến đọc được và không muốn nó bị đốt.
Một người lính Mỹ giữ nó suốt 35 năm.
Rồi những trang viết vượt nửa vòng trái đất để trở về với người mẹ của người đã viết ra chúng.
Ngọn lửa không thiêu cháy trang giấy
Nếu ngày hôm ấy Nguyễn Trung Hiếu không đọc cuốn sổ…
Nếu Frederic Whitehurst vẫn đưa nó vào lửa…
Có lẽ ngày hôm nay chúng ta chỉ biết Đặng Thùy Trâm qua một hồ sơ liệt sĩ:
Một nữ bác sĩ.
Sinh năm 1942.
Vào chiến trường.
Hy sinh năm 1970.
Nhưng nhờ những trang nhật ký còn lại, chúng ta được gặp một con người.
Một cô gái Hà Nội đôi khi yếu lòng.
Một người con nhớ mẹ.
Một người phụ nữ biết yêu, biết buồn.
Một bác sĩ đau đớn khi không cứu được thương binh.
Một người cán bộ phải tự động viên mình mỗi khi khó khăn.
Và một người trẻ hiểu rất rõ rằng hòa bình quý giá đến mức nào.
Có lẽ đó chính là ý nghĩa sâu xa nhất trong câu nói của người thông dịch năm ấy:
Cuốn sổ đã có lửa.
Ngọn lửa ấy không phải ngọn lửa có thể thiêu cháy giấy.
Đó là ngọn lửa của tuổi trẻ, của tình thương, của lý tưởng và của khát vọng hòa bình.
Đặng Thùy Trâm đã không trở về.
Nhưng những trang nhật ký của chị đã trở về.
Chúng vượt qua chiến trường.
Vượt qua đại dương.
Vượt qua 35 năm.
Và cuối cùng trở thành một phần ký ức của những thế hệ sinh ra rất lâu sau khi tiếng súng đã im.
Một cuốn sổ từng đứng trước ngọn lửa năm nào đã không bị cháy.
Bởi đúng như lời người đã cứu nó:
Trong đó đã có lửa rồi.
Nguồn tư liệu: Thông tấn xã Việt Nam/Báo Tin tức; Báo Nhân Dân; Báo Quân đội nhân dân.



