Cuốn sổ ghi chép của liệt sĩ Nguyễn Khắc Hậu
Cuốn sổ ghi chép của liệt sĩ Nguyễn Khắc Hậu“Tuổi tôi còn trẻ, đời còn dài, đường đi cách mạng còn gian nan xa tít. Nhưng dù đến bao giờ chăng nữa tôi cũng theo cách mạng đến cùng. Đến khi nào hòa bình, Tổ quốc được thống nhất lúc đó mới hoàn thành nhiệm vụ của người thanh niên...”
Đó là lý tưởng sống của một thanh niên vừa rời ghế nhà trường, đại diện cho một thế hệ người Việt Nam trong chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước - những người đã viết lên trang sử hào hùng cho Tổ quốc. Lý tưởng và tình cảm cao đẹp của họ dành cho quê hương đất nước, cho đồng bào miền Nam đã được ghi lại chân thực trong cuốn sổ ghi chép của liệt sĩ Nguyễn Khắc Hậu….
Cuốn sổ ghi chép đã được ông Vũ Xuân Hà, nguyên chiến sĩ Đại đội 5, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 21, Sư đoàn 2, Quân khu 5 cất giữ như vật báu của gia đình. Khi chúng tôi xin phép được xem cuốn sổ, ông Hà trân trọng lấy ra từ trong chiếc hộp gỗ nhỏ xinh xắn cuốn sổ màu xanh tím đã cũ sờn. Hai bàn tay nhăn nheo run run nâng niu cuốn sổ đặt nhẹ lên bàn, vẻ mặt ông trùng xuống, nhìn một hồi lâu vào cuốn sổ rồi ông nói với chúng tôi: “Cuốn sổ này đồng chí Nguyễn Khắc Hậu dùng để ghi chép ở chiến trường từ năm 1965 đến trước lúc đồng chí hy sinh. Sau đó cuốn sổ ghi chép của anh được các chiến sĩ Đại đội 5 chuyền tay nhau viết đến năm 1970”.
Vượt Trường Sơn bằng tất cả tình yêu
Năm 1965, cả miền Bắc vừa tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa đối phó với chiến tranh phá hoại, phong tỏa bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ. Ở miền Nam, quân và dân ta đang ra sức chuẩn bị, sẵn sàng đánh bại chiến lược chiến tranh cục bộ của địch. Thanh niên, học sinh cả nước sục sôi tinh thần xung phong nhập ngũ vào miền Nam chiến đấu. Lúc đó, chàng thành niên Nguyễn Khắc Hậu, quê xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, đang học lớp 10 trường cấp ba Thuận Thành, Bắc Ninh đã xin cha tình nguyện lên đường nhập ngũ. Ngày 30/5/1965, Hậu được biên chế vào Đại đội 5, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 21. Sau 2 tháng lăn lộn trên thao trường, huấn luyện kỹ, chiến thuật chiến đấu cơ bản, tháng 7/1965, đơn vị của Hậu nhận lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam. Ngày lên đường, trong lòng anh ngập tràn cảm xúc. Anh hình dung phía sau những cánh rừng già đại ngàn, sau dãy Trường Sơn hùng vĩ là đồng bào miền Nam ruột thịt đang ngày đêm bị đế quốc Mỹ đàn áp và giết chóc. Hậu ước ao ngay lập tức được ra trận, cầm súng tiêu diệt quân thù, để “làm những con người kết thúc chiến tranh, kết thúc mọi đau thương tang tóc”.
Tháng 7/1965, Hậu cùng đơn vị hành quân vào chiến trường, khi những trận mưa rừng xối xả, kéo dài liên miên, làm cho đá núi Trường Sơn như cũng mềm ra, đất rừng Trường Sơn nhão choẹt và trơn nhẫy. Những ngày đó, Hậu đã phải trải qua “cái đói chưa từng thấy ở Trường Sơn, phải ăn rau tàu bay, măng, chuối, sắn để đỡ dạ, qua tháng đoạn ngày, bốn ngày không một hạt cơm nhưng vẫn vượt đèo 2089”. Đói rét, hiểm nguy đã vắt kiệt sức lực của anh, nhưng tình yêu thương thiết tha với đồng bào miền Nam ruột thịt luôn thôi thúc trong tim, như tiếp thêm sức mạnh nâng bước chân anh vượt qua bao khó khăn, gian khổ. Chiến trường ngày một gần hơn…
Yêu đồng bào, yêu quê hương, trọn niềm tin với Đảng
Vào chiến trường, đơn vị của Hậu được biên chế vào Sư đoàn bộ binh 2 Quân khu 5. Những ngày đầu ở miền Nam, Hậu đã tận mắt chứng kiến những cảnh đau thương: “Từng đàn quạ sắt của đế quốc Mỹ ngày đêm bắn phá vào làng mạc của những người dân vô tội, cướp đi biết bao sinh mạng của những mảnh đời bất hạnh”. Trên đường hành quân, có lần nhìn thấy một em bé sống cô đơn trên miệng hầm, cả cha mẹ em đều bị bom Mỹ giết hại, Hậu đã không cầm được nước mắt. Xót thương hoàn cảnh của đứa trẻ, anh đã viết một bài thơ bày tỏ sự chia sẻ của mình: “Nghe em kể anh thương quá đi thôi
Cuộc đời em quá chơi vơi
Ngày đêm phải ở quanh nơi hố hầm
Trời thì mưa nắng dãi dầm
Ngày đêm cứ phải âm thầm thế thôi” Anh thương em bé mồ côi nhưng tình cảm đó không phải là sự thương hại, mà đó là tình cảm đồng bào thiêng liêng, tình cảm Bắc, Nam hai miền ruột thịt.
Chống giặc Mỹ xâm lược, hàng triệu người dân Việt Nam đã anh dũng hy sinh, với anh sự hy sinh đó không phải là mất đi mà còn trường tồn mãi mãi, hiện hữu hằng ngày trong cuộc sống. Nguyễn Đức Hậu đã viết trong cuốn sổ của mình: “Những chiếc khăn quàng đỏ của những thiếu nhi tháng tám, đang in màu trên nền trời xanh biếc. Đấy là những giọt máu đào của các chiến sĩ đã hy sinh vì dân, vì nước để tô đỏ thắm cho đàn em nhỏ đầy tương lai và ước hẹn”.
Chiến tranh gian khổ và ác liệt, nhưng trong lòng anh luôn nhớ về miền Bắc thân yêu. Nơi có mái trường mà anh đã học, có những người bạn và cả người con gái anh quý mến: “Ôi bao nhiêu những hình ảnh tuổi thơ ấu còn học trong mái trường tiểu học và trung học, tôi sao quên được, tôi vô cùng nhớ trường và muốn tiếp tục đời học sinh của mình. Hình ảnh các bạn nam, nữ trong lớp, trong trường không sao quên được trong trí óc tôi. Cô bạn gái đáng thương không biết giờ đây đang làm gì nhỉ?”. Yêu quê hương, anh càng hăng say trong học tập và chiến đấu: “Tôi luôn luôn học tập những người anh đi trước để bảo vệ non sông yêu dấu. Tôi luôn tích cực trong công tác, học tập quân sự, chính trị, kiên gan trong chiến đấu”. Anh tự hào được đứng trong hàng ngũ của Đảng, luôn tiên phong trong chiến đấu và công tác. Trong cuốn nhật ký anh viết: “... Ngày 12/5/1966, tôi được vào tổ chức cao nhất tức là Đảng Lao động Việt Nam. Từ đó tôi càng thấy trách nhiệm của mình cao hơn, nặng nề hơn. Tôi đã làm đúng lời dặn của cha tôi khi còn ở nhà: Đi được kết nạp Đảng, hoàn thành mọi nhiệm vụ trên giao một cách tốt đẹp”.
Anh hiểu rằng muốn giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, được trở về quê hương đoàn tụ với gia đình chỉ có cách duy nhất là theo cách mạng chiến đấu tới cùng, “biết bao giờ mới được trở về gia đình? Câu hỏi ấy luôn hiện lên trong óc tôi. Nhưng điều này giải quyết được ngay, muốn vậy phải hăng say chiến đấu, kiên gan, xả thân vì Tổ quốc. Đó là lập trường đúng đắn nhất của tôi... Tuổi tôi còn trẻ, đời còn dài, đường đi cách mạng còn gian nan xa tít. Nhưng dù đến bao giờ chăng nữa cũng theo cách mạng đến cùng. Đến khi nào hòa bình, Tổ quốc được thống nhất lúc đó mới hoàn thành nhiệm vụ của người thanh niên”.
Trong mỗi trận đánh, anh đều dũng cảm xung phong tiêu diệt quân thù. Ngày 7/11/1966, trong trận đánh tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 45 thuộc Trung đoàn 5, Sư đoàn 2 ở Phước Bình, tỉnh Quảng Nam anh đã anh dũng hi sinh. Tinh thần xả thân vì nước của đồng chí Nguyễn Khắc Hậu đã tạo thành một ngọn lửa tinh thần to lớn tiếp thêm sức mạnh cho toàn đơn vị. Để phát huy nguồn sức mạnh đó, Đại đội 5 đã phát động một phong trào thi đua giết giặc lập công, hành động theo tấm gương đồng chí Nguyễn Khắc Hậu. Cuốn sổ ghi chép trở thành bảo vật quý giá của toàn Đại đội và được cán bộ chiến sĩ truyền tay nhau viết tiếp đến năm 1970. Ngày 20/11/2011, ông Vũ Xuân Hà tặng cuốn sổ ghi chép cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.
Phạm Tuấn - Vũ An
Cuốn sổ ghi chép đã được ông Vũ Xuân Hà, nguyên chiến sĩ Đại đội 5, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 21, Sư đoàn 2, Quân khu 5 cất giữ như vật báu của gia đình. Khi chúng tôi xin phép được xem cuốn sổ, ông Hà trân trọng lấy ra từ trong chiếc hộp gỗ nhỏ xinh xắn cuốn sổ màu xanh tím đã cũ sờn. Hai bàn tay nhăn nheo run run nâng niu cuốn sổ đặt nhẹ lên bàn, vẻ mặt ông trùng xuống, nhìn một hồi lâu vào cuốn sổ rồi ông nói với chúng tôi: “Cuốn sổ này đồng chí Nguyễn Khắc Hậu dùng để ghi chép ở chiến trường từ năm 1965 đến trước lúc đồng chí hy sinh. Sau đó cuốn sổ ghi chép của anh được các chiến sĩ Đại đội 5 chuyền tay nhau viết đến năm 1970”.
Vượt Trường Sơn bằng tất cả tình yêu
Năm 1965, cả miền Bắc vừa tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa đối phó với chiến tranh phá hoại, phong tỏa bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ. Ở miền Nam, quân và dân ta đang ra sức chuẩn bị, sẵn sàng đánh bại chiến lược chiến tranh cục bộ của địch. Thanh niên, học sinh cả nước sục sôi tinh thần xung phong nhập ngũ vào miền Nam chiến đấu. Lúc đó, chàng thành niên Nguyễn Khắc Hậu, quê xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, đang học lớp 10 trường cấp ba Thuận Thành, Bắc Ninh đã xin cha tình nguyện lên đường nhập ngũ. Ngày 30/5/1965, Hậu được biên chế vào Đại đội 5, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 21. Sau 2 tháng lăn lộn trên thao trường, huấn luyện kỹ, chiến thuật chiến đấu cơ bản, tháng 7/1965, đơn vị của Hậu nhận lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam. Ngày lên đường, trong lòng anh ngập tràn cảm xúc. Anh hình dung phía sau những cánh rừng già đại ngàn, sau dãy Trường Sơn hùng vĩ là đồng bào miền Nam ruột thịt đang ngày đêm bị đế quốc Mỹ đàn áp và giết chóc. Hậu ước ao ngay lập tức được ra trận, cầm súng tiêu diệt quân thù, để “làm những con người kết thúc chiến tranh, kết thúc mọi đau thương tang tóc”.
Tháng 7/1965, Hậu cùng đơn vị hành quân vào chiến trường, khi những trận mưa rừng xối xả, kéo dài liên miên, làm cho đá núi Trường Sơn như cũng mềm ra, đất rừng Trường Sơn nhão choẹt và trơn nhẫy. Những ngày đó, Hậu đã phải trải qua “cái đói chưa từng thấy ở Trường Sơn, phải ăn rau tàu bay, măng, chuối, sắn để đỡ dạ, qua tháng đoạn ngày, bốn ngày không một hạt cơm nhưng vẫn vượt đèo 2089”. Đói rét, hiểm nguy đã vắt kiệt sức lực của anh, nhưng tình yêu thương thiết tha với đồng bào miền Nam ruột thịt luôn thôi thúc trong tim, như tiếp thêm sức mạnh nâng bước chân anh vượt qua bao khó khăn, gian khổ. Chiến trường ngày một gần hơn…
Yêu đồng bào, yêu quê hương, trọn niềm tin với Đảng
Vào chiến trường, đơn vị của Hậu được biên chế vào Sư đoàn bộ binh 2 Quân khu 5. Những ngày đầu ở miền Nam, Hậu đã tận mắt chứng kiến những cảnh đau thương: “Từng đàn quạ sắt của đế quốc Mỹ ngày đêm bắn phá vào làng mạc của những người dân vô tội, cướp đi biết bao sinh mạng của những mảnh đời bất hạnh”. Trên đường hành quân, có lần nhìn thấy một em bé sống cô đơn trên miệng hầm, cả cha mẹ em đều bị bom Mỹ giết hại, Hậu đã không cầm được nước mắt. Xót thương hoàn cảnh của đứa trẻ, anh đã viết một bài thơ bày tỏ sự chia sẻ của mình: “Nghe em kể anh thương quá đi thôi
Cuộc đời em quá chơi vơi
Ngày đêm phải ở quanh nơi hố hầm
Trời thì mưa nắng dãi dầm
Ngày đêm cứ phải âm thầm thế thôi” Anh thương em bé mồ côi nhưng tình cảm đó không phải là sự thương hại, mà đó là tình cảm đồng bào thiêng liêng, tình cảm Bắc, Nam hai miền ruột thịt.
Chống giặc Mỹ xâm lược, hàng triệu người dân Việt Nam đã anh dũng hy sinh, với anh sự hy sinh đó không phải là mất đi mà còn trường tồn mãi mãi, hiện hữu hằng ngày trong cuộc sống. Nguyễn Đức Hậu đã viết trong cuốn sổ của mình: “Những chiếc khăn quàng đỏ của những thiếu nhi tháng tám, đang in màu trên nền trời xanh biếc. Đấy là những giọt máu đào của các chiến sĩ đã hy sinh vì dân, vì nước để tô đỏ thắm cho đàn em nhỏ đầy tương lai và ước hẹn”.
Chiến tranh gian khổ và ác liệt, nhưng trong lòng anh luôn nhớ về miền Bắc thân yêu. Nơi có mái trường mà anh đã học, có những người bạn và cả người con gái anh quý mến: “Ôi bao nhiêu những hình ảnh tuổi thơ ấu còn học trong mái trường tiểu học và trung học, tôi sao quên được, tôi vô cùng nhớ trường và muốn tiếp tục đời học sinh của mình. Hình ảnh các bạn nam, nữ trong lớp, trong trường không sao quên được trong trí óc tôi. Cô bạn gái đáng thương không biết giờ đây đang làm gì nhỉ?”. Yêu quê hương, anh càng hăng say trong học tập và chiến đấu: “Tôi luôn luôn học tập những người anh đi trước để bảo vệ non sông yêu dấu. Tôi luôn tích cực trong công tác, học tập quân sự, chính trị, kiên gan trong chiến đấu”. Anh tự hào được đứng trong hàng ngũ của Đảng, luôn tiên phong trong chiến đấu và công tác. Trong cuốn nhật ký anh viết: “... Ngày 12/5/1966, tôi được vào tổ chức cao nhất tức là Đảng Lao động Việt Nam. Từ đó tôi càng thấy trách nhiệm của mình cao hơn, nặng nề hơn. Tôi đã làm đúng lời dặn của cha tôi khi còn ở nhà: Đi được kết nạp Đảng, hoàn thành mọi nhiệm vụ trên giao một cách tốt đẹp”.
Anh hiểu rằng muốn giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, được trở về quê hương đoàn tụ với gia đình chỉ có cách duy nhất là theo cách mạng chiến đấu tới cùng, “biết bao giờ mới được trở về gia đình? Câu hỏi ấy luôn hiện lên trong óc tôi. Nhưng điều này giải quyết được ngay, muốn vậy phải hăng say chiến đấu, kiên gan, xả thân vì Tổ quốc. Đó là lập trường đúng đắn nhất của tôi... Tuổi tôi còn trẻ, đời còn dài, đường đi cách mạng còn gian nan xa tít. Nhưng dù đến bao giờ chăng nữa cũng theo cách mạng đến cùng. Đến khi nào hòa bình, Tổ quốc được thống nhất lúc đó mới hoàn thành nhiệm vụ của người thanh niên”.
Trong mỗi trận đánh, anh đều dũng cảm xung phong tiêu diệt quân thù. Ngày 7/11/1966, trong trận đánh tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 45 thuộc Trung đoàn 5, Sư đoàn 2 ở Phước Bình, tỉnh Quảng Nam anh đã anh dũng hi sinh. Tinh thần xả thân vì nước của đồng chí Nguyễn Khắc Hậu đã tạo thành một ngọn lửa tinh thần to lớn tiếp thêm sức mạnh cho toàn đơn vị. Để phát huy nguồn sức mạnh đó, Đại đội 5 đã phát động một phong trào thi đua giết giặc lập công, hành động theo tấm gương đồng chí Nguyễn Khắc Hậu. Cuốn sổ ghi chép trở thành bảo vật quý giá của toàn Đại đội và được cán bộ chiến sĩ truyền tay nhau viết tiếp đến năm 1970. Ngày 20/11/2011, ông Vũ Xuân Hà tặng cuốn sổ ghi chép cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.
Phạm Tuấn - Vũ An



