Cựu binh TRần Quang Hán
Năm 1971, khi vừa học xong lớp 10, chàng thanh niên Trần Quang Hán rời mái nhà thân yêu để lên đường nhập ngũ. Thời điểm ấy, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đang vô cùng khó khăn và gian khổ. Sau những năm chiến đấu ác liệt ở Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, đất nước đang rất cần thêm sức người, sức của. Học xong vào tháng 5 thì đến tháng 8 năm 1971, ông chính thức bước vào quân ngũ, khi trình độ văn hóa phổ biến lúc bấy giờ chỉ học hết lớp 10.
Sau khi nhập ngũ, ông được huấn luyện bộ binh, rồi được điều về binh chủng kỹ thuật, chuyên ngành lái ô tô quân đội. Ông theo học tại. Trường lái xe Quân khu Việt Bắc, đóng tại Thái Nguyên. Thời gian học lái xe rất ngắn, chỉ 45 ngày, nhưng sau đó ông và đồng đội đã phải đảm nhận những nhiệm vụ vô cùng nặng nề.
Hoàn thành khóa học, các ông lên Đồng Đăng, Lạng Sơn nhận xe ô tô từ Trung Quốc chuyển sang, rồi lái xe đưa vào Thanh Hóa, Nghệ An để phục vụ chiến trường. Công việc của ông là lái xe kỹ thuật phục vụ chiến đấu. Dù không trực tiếp cầm súng, nhưng ông và đồng đội làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực, đạn dược, thuốc men trên tuyến đường Trường Sơn, góp phần bảo đảm cho bộ đội nơi mặt trận có đủ điều kiện chiến đấu.
Trên những hành trình ấy, gian khổ và hy sinh là điều không thể tránh khỏi. Có những đoàn xe xuất phát mười chiếc, nhưng khi đến nơi chỉ còn một đến ba chiếc. Bom đạn của Mỹ trút xuống dọc đường, xe bị phá hủy, đồng đội hy sinh, có người không bao giờ trở về. Có những chuyến đi, khoảng mười chiến sĩ lái xe đưa hàng vào chiến trường, nhưng khi hoàn thành nhiệm vụ thì đoàn xe chỉ còn lại vài chiếc. Dù vậy, ông và đồng đội vẫn kiên trì bám đường, bởi nếu không có lương thực, đạn dược, thuốc men thì bộ đội nơi tuyến đầu không thể hoàn thành nhiệm vụ.
Trong gần 20 năm quân ngũ, ông không chỉ là người lính phục vụ chiến đấu mà còn là thầy giáo dạy lái xe quân đội từ năm 1972 đến 1982. Nhiều học trò của ông, trong đó có con em quê hương Đào Xá, đã trưởng thành từ tay lái của ông để tiếp tục lên đường bảo vệ Tổ quốc. Với họ, ông không chỉ là cấp trên, mà còn là người anh, người thầy tận tâm.
Một kỷ niệm khiến ông không thể nào quên là vào tháng 2 năm 1979, khi ông được điều động lên Lào Cai phục vụ bộ đội tại chiến trường. Trước đó, trong kháng chiến chống Mỹ, ông chủ yếu làm nhiệm vụ từ Thanh Hóa, Nghệ An trở ra. Lần này, ông tận mắt chứng kiến cảnh đồng đội hy sinh, quần áo mắc trên ngọn cây, pháo bắn khiến nhiều người ngã xuống. Không chỉ vậy, ông còn xót xa trước cảnh nhân dân mất người thân, mất tài sản, trâu bò bị pháo bắn chết, mất máu rồi gục xuống. Những hình ảnh ấy đã hằn sâu trong ký ức của ông suốt cả cuộc đời.
Trong quá trình công tác, ông lần lượt đảm nhiệm nhiều vị trí: tiểu đội trưởng, trung đội trưởng, đại đội phó, tiểu đoàn phó và được phong quân hàm Trung tá trước khi xuất ngũ năm 1991. Nhưng với ông, điều đáng trân trọng nhất không phải là quân hàm hay chức vụ, mà là được góp một phần công sức nhỏ bé vào chiến thắng chung của dân tộc.



