Cựu chiến binh, Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân ĐOÀN PHƯỚC TRUYỀN
Cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước là một trong những trang sử bi tráng và hào hùng nhất của dân tộc Việt Nam từ thế kỉ XVIII đến thế kỉ XX. Đó là cuộc chiến không cân sức giữa một dân tộc nhỏ bé nhưng giàu lòng yêu nước với một đế quốc hùng mạnh, sở hữu vũ khí hiện đại và chiến lược chiến tranh tàn bạo.
Bom đạn trút xuống khắp làng quê, thành phố; máu và nước mắt thấm sâu vào từng tấc đất quê hương, để lại những mất mát không gì bù đắp được. Thế nhưng, chính trong hoàn cảnh khốc liệt ấy, phẩm chất anh hùng và tinh thần bất khuất của con người Việt Nam lại tỏa sáng rực rỡ. Từ những người lính nơi tuyến lửa Trường Sơn, những cô gái thanh niên xung phong ngày đêm mở đường, đến những bà mẹ âm thầm tiễn con ra trận, tất cả đều mang trong mình lí tưởng cao đẹp: sẵn sàng hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Trong đó, Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Đoàn Phước Truyền là một trong những chiến sĩ mang trong mình dòng máu yêu nước nên ông đã bỏ lại tuổi thanh xuân của mình tham gia chiến đấu để góp phần bảo vệ đất nước.
Anh hùng LLVTND Đoàn Phước Truyền |
Ông có 8 người anh em ruột, trong đó có 4 người là liệt sĩ và 1 người em là cơ sở cách mạng từng bị địch bắt tù đày. Mẹ ông được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu “Mẹ Việt Nam anh hùng”… Sớm phải sống trong cảnh mồ côi, chứng kiến cảnh địch xây đồn bốt, dồn dân vào ấp chiến lược, mở nhiều chiến dịch càn quét, bắt bớ, tra tấn cán bộ, du kích dã man, những người ruột thịt bị bắn giết, tù đày… Nỗi hờn căm kẻ thù tột bậc cùng với những tấm gương trong gia đình - đó chính là sức mạnh, là động lực tinh thần để chàng thanh niên Đoàn Phước Truyền sớm đi theo cách mạng.
Năm 1963, mới 16 tuổi, Đoàn Phước Truyền làm giao liên, nắm tình hình địch, chuyển tài liệu, rải truyền đơn tại xã Tân Mỹ. Sau đó, ông thoát li gia đình, vào bộ đội địa phương của huyện Lấp Vò. Một năm sau, ông được Tỉnh ủy Vĩnh Long cử đi học báo vụ ở R- căn cứ cách mạng miền Đông Nam Bộ. Chuyến đi ấy, bị địch phục kích, đánh bom, nên ông không kịp nhập học và phải đợi năm sau. Vào thời điểm đó, Đoàn 70 An ninh vũ trang miền thành lập. Ông xin ra nhập Đoàn 70 để được trực tiếp cầm súng chiến đấu. Tháng 6/1965, ông được biên chế vào C1, D3, Đoàn 70, là lực lượng bảo vệ khu vực vòng ngoài của Trung ương Cục. Đến 3/1968 Đoàn 70 đổi phiên hiệu thành Đoàn 180 An ninh vũ trang miền - lực lượng trực tiếp bảo vệ Trung ương Cục miền Nam trong chiến tranh chống Mỹ và là tiền thân của Phòng 180 (Phòng Cảnh vệ miền Nam), Bộ Tư lệnh Cảnh vệ ngày nay.
Từ tháng 6/1963 đến tháng 4/1975, chiến sĩ Đoàn Phước Truyền đã tham gia chiến đấu trên 25 trận, diệt 22 tên địch, bắn cháy và chỉ huy tiểu đội gài mìn phá hủy 4 xe tăng, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng của Mỹ. Ông được Đảng, Nhà nước và Quân đội 5 lần phong tặng Huân chương các loại; 3 Huy chương chiến sĩ vẻ vang, 4 lần được phong tặng danh hiệu Dũng sỹ diệt Mỹ, Dũng sỹ diệt xe tăng, Dũng sỹ Quyết thắng; nhiều năm đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua, được tặng thưởng 32 Bằng khen và Giấy khen… Đoàn Phước Truyền là 1 trong 7 cá nhân của Bộ Tư lệnh cảnh vệ được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Đoàn Phước Truyền cùng đoàn cán bộ, chiến sĩ Cảnh vệ thăm quan Nhà truyền thống lực lượng an ninh vũ trang miền Nam tại Tây Ninh |
Đi giữa miền ký ức hôm qua, người cựu sĩ quan an ninh đã ở độ tuổi “thất thập” vẫn nhớ như in những tháng ngày cam go, ác liệt. Tuổi thanh xuân của ông gắn liền với cây súng thép và những trận đánh ở miền Đông Nam bộ. Đó là những trận Trảng Trà Chúc, Bàu Đưng, Trảng Ba Châu, Thiện Ngôn, quốc lộ 22 Xa Mát; là những Suối Mây, Trảng Bò, Trảng Tre; Trại Bí; trận bắn máy bay Mĩ lên thẳng ở Trảng Dài và Chi khu Mỏ Công, Cao Xá… Thời đó, Đoàn Phước Truyền trong số những người lính trẻ nhất của đơn vị, luôn xông pha vào những nơi cam go nhất; năng nổ, mưu trí, dũng cảm, dám đương đầu với hiểm nguy, không quản ngại hi sinh. Và cái tên Đoàn Phước Truyền đã nổi tiếng ở đoàn 180, ở vùng rừng miền Đông Nam Bộ, làm cho kẻ thù khiếp sợ.
Năm 1966, Tiểu đoàn 3, đoàn 180 được cấp 4 khẩu B40 - là loại vũ khí mới chống tăng. Cả đơn vị dấy lên phong trào “Tìm diệt xe tăng địch”. Đoàn Phước Truyền là người đầu tiên dùng B40 bắn cháy xe tăng Mỹ. Chiến công đó đã làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ toàn đơn vị.
“Địch dùng pháo các loại kết hợp với máy bay phản lực bỏ bom hủy diệt trận địa. Trong lúc chiến đấu, tôi bị một trái pháo nổ làm đứt gần hết cánh tay phải. Thấy không thể giữ lại được cánh tay, tôi bảo y tá dùng kéo cắt bỏ cánh tay bị thương để khỏi vướng cây rừng và tiếp tục chiến đấu. Tôi điều đơn vị ra khỏi tầm pháo của địch rồi sau đó do mất nhiều máu, tôi đã bị ngất”… Đại tá Đoàn Phước Truyền chia sẻ.
Phải cắt bỏ cánh tay khi mới 21 tuổi. Ở tuổi đôi mươi đang còn hừng hực sức xuân với mong muốn được trực tiếp chiến đấu nhưng lại không thể cầm được súng; mọi công việc, sinh hoạt đời thường rất khó khăn. Với chàng thanh niên Đoàn Phước Truyền, mọi thứ tưởng chừng như chấm dứt; thất vọng, buồn và hẫng hụt…
Thế nhưng không được trực tiếp cầm súng chiến đấu, Đoàn Phước Truyền chuyển về làm chính trị viên Phó Đội 1 thuộc Đoàn 180 An ninh vũ trang miền Nam. Tháng 4/1981, vì điều kiện sức khỏe, ông xin chuyển ngành sang làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ Tỉnh ủy Đồng Tháp. Ở đó, ông đã gặp người con gái cảm mến nghị lực phi thường và dành cho ông một tình yêu vô bờ bến. Và họ đã có 1 mái ấm gia đình hạnh phúc. Thanh Bình là cái tên mà ông bà đã chọn đặt cho người con trai đầu lòng, thể hiện ước mơ, khát vọng của riêng mình cũng như của nhiều thế hệ người dân nước Việt.
50 năm qua, người cựu binh già Đoàn Phước Truyền luôn đau đáu và trăn trở. Ông tâm niệm: “Mình là người may mắn hơn nhiều đồng đội không còn có cơ hội trở về, còn được hưởng niềm vui thống nhất…”. Nỗi đau đáu và tâm nguyện của ông là mong muốn tìm được thi hài của hơn 80 liệt sĩ của Đoàn 180 An ninh vũ trang Miền Nam vẫn còn nằm đâu đó trên mảnh đất Tây Ninh, chưa được về với quê hương, đất Mẹ. Bao năm qua, ông vẫn mong muốn đi tìm hài cốt những người bạn chiến đấu của mình ở những góc đất, bìa rừng, bờ sông, khe suối.
Qua đó cho thấy những người được sinh ra trong thời bình mới hiểu sâu sắc vì sao dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam vẫn mãi trường tồn, vì có những thế hệ cán bộ, chiến sĩ Cảnh vệ dám dũng cảm dấn thân, một đời nguyện sống và hy sinh vì lý tưởng. Hiểu điều đó, chúng tôi càng trân trọng thế hệ cha anh đi trước, những người luôn biết sống vì đồng loại, dám buông xả lợi ích cá nhân, trọn vẹn một niềm vì Tổ quốc, Nhân dân “chỉ biết còn Đảng thì còn mình.
Những năm tháng gian khổ nơi chiến trường đã tôi luyện ở ông ý chí kiên cường, tinh thần bất khuất và lòng yêu nước nồng nàn. Dù trong hoàn cảnh hiểm nguy, thiếu thốn và hy sinh, ông vẫn một lòng trung thành với lý tưởng cách mạng, sẵn sàng cống hiến tất cả vì tương lai hòa bình của đất nước hôm nay.
Không chỉ là người lính anh dũng trong thời chiến, khi trở về với cuộc sống đời thường, ông vẫn tiếp tục là tấm gương sáng về phẩm chất đạo đức, lối sống giản dị, nghĩa tình, luôn quan tâm, giáo dục thế hệ trẻ bằng chính những câu chuyện chân thực, xúc động về một thời “hoa lửa”.
Những đóng góp thầm lặng nhưng to lớn của ông đã và đang góp phần bồi đắp truyền thống yêu nước, hun đúc tinh thần trách nhiệm và niềm tự hào dân tộc cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Chúng tôi xin nghiêng mình trước những hy sinh cao cả ấy và nguyện sẽ tiếp nối, gìn giữ những giá trị mà các thế hệ cha anh đã đánh đổi bằng máu xương để dựng xây.


