Bài viết

Cựu chiến binh Nguyễn Đức Hoạt

Hưng Yên25/12/2025Trường THPT Mỹ Hào (Trường THPT Mỹ Hào)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
  1. Cựu chiến binh Nguyễn Đức Hoạt và hồi ức về hành trình kháng chiến chống Mỹ

Tháng 3/1967, khi vừa tròn 19 tuổi, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, thanh niên Nguyễn Đức Hoạt đã cùng với nhiều thanh niên của quê hương Mỹ Đức hăng hái lên đường nhập ngũ, đem trí tuệ và lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ cống hiến cho cách mạng. Sau khi nhập ngũ, ông được huấn luyện 6 tháng ở Hà Tây, sau đó vào Lạc Sơn, Hòa Bình. Ông được biên chế vào Tiểu đoàn Thông tin 18, sau được chuyển về Trung đoàn 52, Sư đoàn 320. Đơn vị được lệnh vào Nam chiến đấu. Đơn vị ông hành quân đúng 1 tháng thì vào đến vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải).

Đầu tháng 3/1968, Trung đoàn 52 được lệnh xuống hoạt động ở vùng đồng bằng, khu vực các xã giáp biển Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Ông Hoạt nhớ lại: Bộ đội và nhân dân ở đây đi lại, sinh hoạt đều theo giao thông hào và hầm hố sâu dưới lòng đất, phía trên mặt đất, bom đạn cày xới suốt ngày đêm. Cuộc sống sinh hoạt vô cùng khó khăn, vất vả. Anh em thì đang quen sống trong rừng, nay xuống hoạt động ở các xã giáp biển, thấy nó trống trải, cứ phơi mình dưới đồng bãi. Nên cùng với chuẩn bị hầm, hào, bộ đội được huấn luyện một số chiến thuật đánh địch ở đồng bằng, nhất là cách đánh và bố phòng trên cát và vượt sông. Trong thời gian này, Trung đoàn tham gia chiến đấu ở Cửa Việt. Đó cũng là lần đầu tiên tôi được xuất trận và cũng là lần đầu tiên Đại đội 5 và Đại đội 6 chúng tôi đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tiên địch và bắt sống 20 tên, bắn cháy 2 xe tăng… Kết thúc Mậu Thân 1968, tôi được kết nạp vào Đảng (4/1968). Đến tháng 4/1970 tôi được đi học ở Trường Sỹ quan Lục quân. Năm 1971 học xong, tôi lại tiếp tục về đơn vị (đi B). Anh em chúng tôi lúc đó có khẩu hiệu: “Đi sâu, đi lâu, đi đến thắng lợi hoàn toàn”, xác định theo Đảng đến cùng.

Ông Hoạt cho biết thêm: Thời điểm Hiệp định Paris 1973 được ký kết, đơn vị tôi được phân công nhiệm vụ cắm cờ giữ đất ở huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai; làm nhiệm vụ trao trả tù binh ở Gia Lai. Sau khi Mỹ tự ý phá vỡ Hiệp định Paris, chúng tôi lại được lệnh tiếp tục chiến đấu.

Ngày 24/4/1975, sau khi đánh thắng trận Cheo Reo-Phú Bổn, đơn vị được lệnh hành quân về Buôn Mê Thuột, vào Lộc Ninh, sang Chơn Thành, vượt sông Sài Gòn để sang đất Củ Chi, tập kết tham gia đánh Căn cứ Đồng Dù (29/4). Lúc đó, ông Hoạt là cán bộ thuộc phòng Chính trị nên đơn vị làm nhiệm vụ quân quản, không trực tiếp chiến đấu. Khi các đơn vị đánh thắng trận Đồng Dù, đơn vị ông làm nhiệm vụ tập trung dân lại, xem còn ai là người theo địch thì bắt ra trình diện (vì thời điểm đó, địch chạy ra dân rất nhiều). Đơn vị ở đây thêm 1 ngày, nên không hề biết là Sài Gòn đã giải phóng.

Ông Hoạt nhớ lại: Đến 2 giờ chiều ngày 30/4, chúng tôi mới nhận được tin giải phóng Sài Gòn. Đơn vị được lệnh chuẩn bị xe và vật chất tiến vào hướng Sài Gòn (từ Củ Chi về Sài Gòn lúc đó khoảng 28km). 5 giờ chiều ngày 30/4, đơn vị tôi xuất phát từ Củ Chi, đi ra đến xã Tân Phú Trung thì xe bị thủng két nước. Anh em phải vào nhà dân xin xà phòng để trát vào lỗ thủng của két nước. Dân phấn khởi và quý bộ đội lắm, họ ra chào đón và mang nhiều đồ mời bộ đội. Chúng tôi tiếp tục đi qua Hóc Môn, vào đến ngã tư Bảy Hiền (giờ là đường Cách mạng Tháng Tám), đến đây thì không biết đường để đến Dinh Độc Lập nữa nên anh em được lệnh quay ra, về đóng quân ở gần sân bay Tân Sơn Nhất (lúc đó là khoảng 1-2 giờ sáng ngày 30/4). Chờ đến sáng 1/5 thì đơn vị tiếp tục quay vào Sài Gòn, toàn đơn vị tập kết ở Trường Trung học Lê Quý Đôn (gần Dinh Độc Lập). Không khí lúc đó rất náo nhiệt, dân tràn ra đường đông lắm, các đơn vị bộ đội của ta từ các hướng cũng đổ về Sài Gòn rất đông. Anh em chúng tôi thì sướng vô cùng, vui sướng vì đã giải phóng được Sài Gòn, những cũng vẫn lo nhỡ còn tên địch nào đâu đó, nó nã đạn vào dân thì sao. Nên là vừa mừng vừa lo, đan xen cảm xúc... Đơn vị tôi ở đó 1 tuần để làm nhiệm vụ bảo vệ. Sau đó được lệnh rút quân về Củ Chi, ở đó hơn 1 năm thì chuyển ra Nha Trang. Đến năm 1976, đơn vị được giải trừ quân bị (số chiến sĩ thì được giải ngũ về, còn cán bộ thì được chuyển ngành). Tháng 10/1976, tôi chuyển ngành về Công ty ăn uống tỉnh Hà Tây. Làm đến 1991 thì tôi nghỉ hưu.

46 năm đã đi qua kể từ chiến thắng mùa Xuân năm 1975, những người lính như ông Hoạt trở về quê hương tiếp tục phát huy tinh thần “thép” của người lính Cụ Hồ trong phát triển kinh tế gia đình, tích cực tham gia công tác xã hội ở địa phương và không quên kể về quá khứ hào hùng cho con cháu nghe. Bác Hoạt có 12 năm làm Chi hội trưởng CCB tổ dân phố 8, phường Nguyễn Trãi (2008-2020). Với họ, những ngày tháng lịch sử làm nên đại thắng 30/4/1975 sẽ mãi là hồi ức không thể nào quên, là niềm tự hào không chỉ của thế hệ những người cầm súng chiến đấu, mà còn là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam.

    Ông Hoàng Công Ngự, nay sinh sống tại huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu nhớ lại: "Chúng tôi hành quân đi bộ rất vất vả. Đơn vị tôi đi 8 tháng trời từ Hòa Bình mới đến mũi Cà Mau, quá trình đi vừa chiến đấu vừa học tập. Lúc ấy toàn thể anh em đều hừng hực khí thế, trong lòng chỉ có một niềm tin đất nước phải độc lập, Bắc - Nam phải sum họp một nhà." Là chiến sĩ của Đại đội thông tin, thuộc Trung đoàn 10, ông Ngự được giao nhiệm vụ đảm bảo thông tin liên lạc giữa các mũi tiến công trên chiến trường ác liệt Tây Nam Bộ và Campuchia.

    Năm 1969, sau khi nghe tin Bác Hồ mất, dù cả Đại đội đều rất buồn và đeo băng tang trên ngực để tưởng nhớ Người, nhưng ai nấy cũng đều quyết tâm cho trận đánh phía trước. Đơn vị ông có người đã hy sinh khi chưa kịp gọi điện về quê lần nào; có người thì vĩnh viễn nằm lại trong rừng già, mỗi lần nhắc đến, ông lại nghèn nghẹn.

    Ông Ngự cho biết, trận chiến đầu tiên ông tham gia là đánh đồn bốt ở biên giới Campuchia. Trận đánh đó rất ác liệt, trên bom, dưới đạn, 3 đồng đội của ông là đại đội trưởng và 2 chiến sĩ đã hy sinh; riêng ông bị thương nặng. Đến khi được đồng đội tìm thấy, đưa về đơn vị ông mới biết mình còn sống. Khi đang tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh và đang ở Cần Thơ, ông và đồng đội mừng rỡ khi hay tin chiến thắng.

    Ông Ngự cho biết: "Đúng 11h30 trưa ngày 30/4/1975, tôi nghe thấy đồng đội la lên là Dương Văn Minh đã đầu hàng rồi thì anh em ai cũng vỗ tay và hô lên giải phóng rồi, giải phóng rồi. Người dân ở thành phố Cần Thơ tràn ra đường, từ già đến trẻ, ai cũng phấn khởi nhảy lên múa và vỗ tay vui mừng. Chúng tôi ai nấy đều rất phấn khởi, vỗ tay hô lên là hòa bình rồi, hòa bình rồi".Không riêng những người lính trực tiếp tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, mỗi người dân sống ở Lai Châu - Tây Bắc ngày đó, dù là cán bộ hậu phương tham gia công tác, hay chỉ sản xuất ở địa phương, ký ức hào hùng của ngày giải phóng, đất nước thống nhất mãi còn nguyên, như mới ngày hôm qua.

    Ông Phạm Ngọc Toan đang sinh sống ở thành phố Lai Châu, tỉnh biên giới Lai Châu xúc động nhớ lại: "Khi tôi đang làm việc ở Bệnh viện huyện Tuần Giáo (Lai Châu cũ), hôm đó đúng vào ngày thứ 4 thì nghe tin Đài TNVN báo tin quân giải phóng đã giải phóng hoàn toàn miền Nam. Cả Bệnh viện Tuần giáo, trong đó

    1. Đối với CCB Lê Vương, 90 tuổi, hiện sống ở phố Nguyễn Du, thị trấn Quảng Hà, huyện Hải Hà, khi kể với chúng tôi về ký ức của Cách mạng Tháng Tám 1945, ông khẳng định: Đó là nhờ ánh sáng của Đảng soi đường, dẫn lối cho cả dân tộc đi đến thắng lợi.

    Sinh năm 1927, trong gia đình có truyền thống cách mạng ở Hà Cối (nay là huyện Hải Hà), ông Lê Vương sớm được giác ngộ cách mạng, đầu năm 1945 ông tham gia kháng chiến, làm liên lạc cho Ban Chỉ đạo miền Đông, khi Nhật - Pháp đánh nhau, ông tham gia cướp kho thóc của Nhật và nhập ngũ tại Trung đoàn 98.

    Ông Vương nhớ lại: Lúc bấy giờ, trước sự kiện Nhật đảo chính Pháp, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" nhằm phát động cao trào kháng Nhật cứu nước, tôi cùng đơn vị đang đóng quân và tham gia chiến đấu tại Chiến khu Đông Triều, đến ngày 19-8-1945 nhận được tin báo là chúng ta đã giành chiến thắng trên tất cả các chiến trường thì cả đơn vị đều vui mừng trong nước mắt, hân hoan, cùng nhân dân hô vang khẩu hiệu "Việt Minh muôn năm!", "Ðả đảo phát-xít Nhật!", "Chính quyền về tay nhân dân". Khi biết tin ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ đọc Bản Tuyên ngôn độc lập - khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại thủ đô Hà Nội, đêm hôm trước đó, đơn vị của tôi ai cũng thao thức vì vui sướng.

    Ông Vương bảo, khí thế sục sôi của Cách mạng Tháng Tám 1945 đã hun đúc niềm tin tất thắng để chiến sĩ, đồng bào cả nước tiếp tục đi trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc cho đến ngày toàn thắng. Năm 1972, ông xuất ngũ, trở về quê hương, cùng với nhân dân kiến thiết, xây dựng quê hương.

    Ông Vương chia sẻ: Tôi tin rằng kế thừa những truyền thống quý báu của dân tộc, trong thời gian tới Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Hải Hà sẽ cùng với cả nước tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, nỗ lực thi đua thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nghị quyết Đại hội Đảng các cấp đã đề ra.

    1. Tự hào người anh hùng đất mỏ

    Cũng giống như CCB Phạm Hồng Sơn, trong ký ức của CCB Phùng Ngọc Hùng, 84 tuổi, hiện sống tại khu 6, phường Bãi Cháy (TP Hạ Long) về cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8-1945 thực sự là ký ức mà cả thế hệ của ông lưu giữ mãi.

    Ông Hùng chia sẻ: Năm 1944, khi Mỹ - Nhật đánh nhau, bom đạn bắn phá vào thị xã Hồng Gai khiến cho kho thóc của Nhật bị đốt cháy. Lúc ấy, vì đói nên nhiều người dân tới mót thóc cháy để ăn, bị phát xít Nhật bắt được, chúng đã đánh đập, tra tấn họ rất dã man. Ngày nào tôi cũng chứng kiến cảnh xác người la liệt ở ngoài đường, cảnh xe chở xác người đi chôn tại chân núi Mắm Tôm. Cảnh tượng lúc ấy càng thôi thúc tôi muốn tham gia cách mạng hơn, đi theo Đảng, được cầm súng bảo vệ Tổ quốcĐầu tháng 8-1945, Việt Minh về tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia đảo chính, giành lại chính quyền chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa, người dân thị xã ai cũng một lòng theo Việt Minh, sục sôi ý chí đấu tranh. Đêm 16, 17, 18-8-1945, người dân Hồng Gai đã đốt đuốc sáng rực, tay cầm búa, gậy, xà-beng, dao, rựa… hừng hực khí thế tiến lên giành chính quyền. Lúc ấy, tôi cùng các thanh niên khác đã cầm bom tự chế bằng vôi bột và mảnh sành tiến vào các đồn, bốt của địch, bắt bọn tay sai phải quy hàng trao lại chính quyền về tay nhân dân. Đó là khoảnh khắc vô cùng đáng nhớ mà cả cuộc đời tôi sẽ không bao giờ quên.

    Ông Hùng nhớ lại, sau khi giành được chính quyền, cuộc sống của người dân bước sang một trang mới. Nạn đói, nghèo, dốt dần dần được đẩy lùi, người dân thị xã hăng say lao động, sản xuất... Cách mạng Tháng Tám thành công, đã tiếp thêm sức mạnh, niềm tin cho lớp thanh niên như ông Hùng tiếp tục tham gia kháng chiến. Ông Hùng lên đường nhập ngũ tháng 8-1947, trực tiếp tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường trong cả nước cho đến ngày đất nước giải phóng hoàn toàn.

    Nhớ lại tháng Tám lịch sử của dân tộc cách đây đã hơn 70 năm, ông khẳng định: Cách mạng Tháng Tám 1945 giúp nhân dân giành lại chính quyền đã tạo nên một bước ngoặt lịch sử, làm thay đổi vận mệnh của đất nước và dân tộc, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chúng tôi vẫn thường giáo dục các con, cháu luôn phải ghi nhớ và phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang của cha ông, ra sức học tập, lao động đóng góp xây dựng quê hương, bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền đất nước.

    1. Những ngày tháng Tám lịch sử này, thật may mắn, khi chúng tôi được gặp và được nghe những câu chuyện kể của những cựu chiến binh (CCB) là nhân chứng lịch sử, chứng kiến giờ phút mà cả nước cùng nổi dậy, đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân trong cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8-1945."Đó là ngày vĩnh viễn không quên được"

    CCB Phạm Hồng Sơn, khu 5b, phường Quang Trung (TP Uông Bí) năm nay đã 94 tuổi. Ông là nhân chứng lịch sử của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc. Dù đã ở cái tuổi xưa nay hiếm, thế nhưng, khi chúng tôi nhắc về cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 giành lại chính quyền, mọi ký ức trong ông lại hiện về. Ông kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện bằng giọng kể đầy tự hào và trôi chảy, cứ như, những câu chuyện đó, với ông mới diễn ra ngày hôm qua vậy.Ông Sơn kể: Ngày 8-6-1945, khi Việt Minh thành lập "Đệ tứ Chiến khu" kêu gọi, tập hợp quần chúng nhân dân tham gia khởi nghĩa, tôi đã cùng thanh niên, người dân vùng lên bắt lý trưởng nộp ấn tín cho cách mạng, nổi dậy đốt, cướp kho thóc của Nhật chia cho nhân dân, tham gia giải phóng Đông Triều. Sau đó, tôi tiếp tục tham gia cùng đoàn người bừng bừng khí thế, ngược về các tổng, huyện kêu gọi khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân tại đồn Tràng Bạch, Uông Bí, Quảng Yên… Ánh mắt đầy xúc động, khi những kỷ niệm xưa đang ùa về, ông Sơn bảo: Tôi không bao giờ quên được giây phút khi nghe đại biểu Mặt trận Việt Minh đọc lệnh khởi nghĩa. Lúc ấy, tôi cùng mọi người hô vang Việt Minh muôn năm! Ðả đảo phát-xít, đả đảo thực dân! Chính quyền về tay nhân dân!.

    Ông Sơn nói với chúng tôi bằng giọng rưng rưng, ông vẫn nhớ như in hình ảnh lực lượng khởi nghĩa và nhân dân ôm chầm lấy nhau trong nước mắt, niềm vui không nói nên lời khi quê hương giành thắng lợi. Ông bảo, tinh thần lúc đó vui sướng lắm vì đã kết thúc 80 năm bị thực dân Pháp đô hộ, cai trị. Người dân đã được làm chủ đất nước.

    Nhìn vào tấm ảnh Bác Hồ treo trên tường, ông nghẹn ngào: Đi hết nửa đời người, chứng kiến biết bao thăng trầm, biến cố của lịch sử, từ chỗ đất nước trong ách nô lệ, cuộc sống người dân đói khổ lầm than, cho đến bây giờ, Việt Nam nói chung và đặc biệt là tỉnh Quảng Ninh đã có những bước phát triển nhảy vọt, người dân có cuộc sống khấm khá, văn minh. Tôi luôn tin tưởng rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân làm nên điều thần kỳ ấy.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn