Cựu chiến binh Nguyễn Văn Thắng
Cựu chiến binh Nguyễn Văn Thắng, sinh năm 1953, quê ở Nam Sách, Hải Dương. Cuối năm 1972, khi chưa tròn 20 tuổi, chàng thanh niên ấy rời quê, được biên chế về Đại đội 5, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 2, Sư đoàn 7, Quân đoàn 3. Vừa đặt chân tới chiến trường miền Đông Nam Bộ đầu năm 1973, ông cùng đồng đội lập tức lao vào nhiệm vụ chốt giữ dọc trục đường 22, nơi tiếp giáp giữa Tây Ninh và Bình Long.
Cựu chiến binh Nguyễn Văn Thắng, sinh năm 1953, quê ở Nam Sách, Hải Dương. Cuối năm 1972, khi chưa tròn 20 tuổi, chàng thanh niên ấy rời quê, được biên chế về Đại đội 5, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 2, Sư đoàn 7, Quân đoàn 3. Vừa đặt chân tới chiến trường miền Đông Nam Bộ đầu năm 1973, ông cùng đồng đội lập tức lao vào nhiệm vụ chốt giữ dọc trục đường 22, nơi tiếp giáp giữa Tây Ninh và Bình Long.
Trong những căn hầm đất thấp ẩm, ông sống giữa tiếng pháo và hơi thuốc súng đặc quánh suốt nhiều tháng. Bộ quần áo Tô Châu màu xanh của ông ngả sang đỏ bầm vì lẫn trong đất phèn. “Có những đêm thức trắng gần như không nhắm mắt. Pháo địch bắn đúng giờ lắm—mười một giờ đêm, bốn giờ sáng. Chỉ cần ngủ gật một chút là không tỉnh lại được nữa”, ông hồi tưởng.
Ông kể, có lần pháo từ hướng Thiện Ngôn dội xuống khiến hầm của ông bị sập một góc. Không thể đào ngay vì đạn vẫn rót xuống, đơn vị phải khoét từng lỗ nhỏ, chờ đến giữa khuya mới lặng lẽ sửa lại hầm. “Hồi đó sống chết cách nhau đúng một nhịp thở”, ông nói, ánh mắt trầm ngâm.
Nhưng ký ức khiến ông day dứt nhất không phải tại cửa ngõ Sài Gòn, mà là trận đánh tháng 1-1975 ở khu vực Trại Bí (Tây Ninh). Trong đêm hành quân, đơn vị ông phải vượt qua bốn lớp rào thép gai. “Chúng tôi nằm ngửa, quấn giẻ vào tay, cắt từng dây một để không phát tiếng động. Có lúc phải cắt hình chữ V để từng người luồn qua. Từ 9 giờ tối đến 4 giờ sáng mới mở được cửa”, ông kể.
Trận đánh thành công, ông được đề nghị kết nạp Đảng ngay sau đó, khi vừa bước sang tuổi 22.
Điều khiến ông không thể quên là người đồng đội quê Thanh Hóa—một chiến sĩ trẻ mang nhiệm vụ đánh bộc phá mở cửa. Khi tiến lên, anh bị thương nặng, mất một bàn tay. Ông Thắng đã dìu anh ra sau trong tiếng pháo dội. Người chiến sĩ thều thào: “Tối qua mới nhận được miếng bánh chưng đồng bào cho… chưa kịp ăn thì lại nằm giữa trận rồi…”. Câu nói ấy theo ông suốt nửa đời người.
“Ngày 18-3-1975, đơn vị tôi mất liền 6 người vì trúng pháo khi đang được quân y băng bó. Toàn những người mới bị thương nhẹ, ngồi chờ cứu, vậy mà cùng lúc đi cả. Chiến tranh tàn nhẫn lắm”, ông nghẹn giọng.Sau chiến thắng Phước Long, đơn vị ông hành quân qua Bến Cát, Chơn Thành, rồi men theo rừng Hố Bò tiến về Sài Gòn. “Hồi đó hai bên toàn rừng cao su, đi đêm, nghỉ ngày. Có đoạn nước ngập tới đầu gối. Khi đến vùng Tân Thới Nhất, chúng tôi thấy xe tăng M41 của địch cháy nằm la liệt”.Sáng 30-4-1975, ông theo cánh quân phía Tây Bắc tiến vào nội đô. Dọc đường, lính ngụy bỏ lại súng đạn, quân phục vứt thành từng đống. “Chúng tôi đi mà không cần nổ một viên đạn nào. Người dân chạy ra hai bên đường, tay cầm hoa, kêu ‘Giải phóng rồi!’ Tôi vừa đi vừa thấy tim mình đập mạnh, vừa mừng vừa không tin nổi”, ông xúc động.
Sau ngày 30-4, ông tham gia tiếp quản kho đạn ở Gò Vấp, rồi xuống quận 5 hỗ trợ giữ gìn trật tự. Đến năm 1978, ông tiếp tục lên đường sang Campuchia làm nhiệm vụ quốc tế. Sau này, ông công tác tại Sư đoàn 302, Quân khu 7, rồi nghỉ hưu tháng 4-2004 với quân hàm Thượng tá.
Ông nói: “Chiến dịch Hồ Chí Minh không chỉ là chiến thắng của quân đội mà là chiến thắng của cả dân tộc. Nhờ máu của bao người nằm lại mà mình mới có ngày hôm nay. Các cháu trẻ bây giờ đừng bao giờ quên điều đó”.
Giờ đây, ở tuổi gần 80, ông Thắng không còn nhớ từng ngày, từng tháng. Nhưng khuôn mặt đồng đội đã hy sinh, mùi đất ẩm trong hầm, những trận đánh sinh tử… thì chưa bao giờ phai nhạt trong trái tim ông.



