Cựu chiến binh

Cựu chiến binh Nguyễn Xuân Trường – câu chuyện cuộc đời người lính trinh sát

Cựu chiến binh Nguyễn Xuân Trường – câu chuyện cuộc đời người lính trinh sát

Đồng Tháp01/12/2025Huỳnh Hoàng Luân (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Tân Phước 3)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1969, chàng trai trẻ Nguyễn Xuân Trường tạm gác lại việc học, rời quê hương lên đường nhập ngũ. Quyết định ấy tiếp nối truyền thống của cha ông – người đã khoác ba lô ra trận từ năm 1966 và anh dũng hy sinh vào năm 1969.

Gia nhập Tiểu đoàn 2, Sư đoàn 338, sau thời gian huấn luyện tại Thanh Hóa, ông Trường hành quân vào Nam, bước vào những tháng ngày chiến đấu ác liệt ở chiến trường Tây Nguyên.

Từ năm 1970 đến đầu 1972, ông tham gia nhiều trận đánh ở Tây Nguyên rồi cùng đơn vị hành quân thần tốc xuống miền Đông Nam Bộ, góp mặt trong Chiến dịch Nguyễn Huệ (3-1972). Trung đoàn lúc ấy đánh vào chiến đoàn 49 của địch ở Xa Mát – Thiện Ngôn (Tây Ninh). Ông tự hào nhớ lại: “Trung đoàn tôi khi đó đã giải phóng hoàn toàn, tiêu diệt căn cứ Xa Mát – Thiện Ngôn và bắt sống 58 xe quân sự, trong đó có cả xe tăng”.

Tiếp đó, ông cùng đồng đội đánh dọc tuyến biên giới và tiến xuống các địa bàn Nam Bộ như Kiến Tường, Mỹ Tho, Long An. Dù nhiều lần bị thương – có lần trúng bom tại đài quan sát năm 1972 và phải điều trị nhiều tháng – nhưng hồi phục xong, ông lại trở về đội hình, tiếp tục chiến đấu.

Đầu năm 1973, đơn vị của ông cắm cờ trên đất Gò Công. Năm 1974, ông cùng đồng đội hoạt động ở các vùng kênh rạch, nơi đời sống vô cùng gian khó: “Ở đó đầm lầy nhiều lắm. Khi đánh nhau, chẳng ai dùng ba lô, mà mang cái bồng. Mỗi người có một phao bơi bọc nilon để đồ đạc khỏi ướt, quần áo cũng có túi phao để tiện bơi qua sông”.

Những ngày nằm vùng ở Gò Công, Tiền Giang vẫn in đậm trong ký ức ông. Mùi cá rán cũng có thể khiến cả tổ trinh sát bị lộ. Lính trinh sát phải nằm im, quan sát từng động tĩnh, nấu nướng hạn chế, sống nhờ tình thương và sự cưu mang lặng lẽ của người dân vùng giải phóng.

Công việc trinh sát đòi hỏi sự thầm lặng và cực kỳ nguy hiểm: bò sát hàng rào, nắm bắt từng lô cốt, từng lớp rào của địch để báo cáo, dẫn đường cho đơn vị đánh chiếm mục tiêu. Mỗi bước chân đều có thể phải trả giá bằng mạng sống vì mìn và bẫy lựu đạn.

Tháng 3-1975, trung đoàn chia làm hai mũi: một đánh chặn địch ở Ngã 6 (Cái Bè, Tiền Giang), một vượt sình lầy tiến về Sài Gòn. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở Ngã 6, toàn trung đoàn tập hợp, tiếp tục tiến qua Chợ Gạo, vượt Long An, đánh dọc các địa bàn Tân Trụ – Vàm Cỏ – Cần Đước – Cần Giuộc.

Tối 29-4, đại đội trinh sát của ông được lực lượng biệt động dẫn đường tiến vào Sài Gòn. Đơn vị đánh từ Tân Trụ lên, qua Cần Đước, Cần Giuộc, đến cầu Nhị Thiên Đường rồi áp sát cầu Chữ Y. Suốt đêm 29 rạng ngày 30-4, tiếng súng dồn dập. Khi đại đội ông đến Tổng Nha Cảnh sát, nơi đây đã chật kín quân ta, rồi theo đoàn tiến vào Dinh Độc Lập. Đó là lúc họ biết chiến thắng đã đến: cờ giải phóng tung bay rực rỡ khắp nơi.

Trong ký ức người lính già, còn nhiều khoảnh khắc không thể nào quên. Như lần ở ngã ba Ôn Bích, khi một cán bộ hy sinh do bẫy lựu đạn, đơn vị phải bắn áp chế để cứu người. Hay trận đánh ở Chi khu Tân Bình (Cai Lậy), nơi tàu địch lên rất đông, các ông bị vây đến mức ba ngày không kiếm nổi hạt gạo, phải ăn chuối luộc cầm hơi đến hoa cả mắt.

Cuộc sống sau ngày đất nước thống nhất

Sau giải phóng, ông ở lại Sài Gòn cùng đơn vị 15 ngày rồi trở về Gò Công. Năm ấy ông cưới bà Cù Thị Ninh (sinh năm 1948). Đến năm 1976, ông được điều động ra Năm Căn, Cà Mau để quản lý cải tạo tù. Năm 1977, khi liên lạc thuận lợi hơn, ông mới hay tin cha mình – liệt sĩ Nguyễn Đình Đán – đã hy sinh từ 1969, đúng năm ông lên đường nhập ngũ. Từ đó, vợ chồng ông quyết định trở lại miền Bắc sinh sống.

Từ năm 1977, ông nhận công tác tại UBND huyện Đan Phượng, giữ nhiều chức vụ như Chánh Thanh tra (1979), Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra, Trưởng phòng Tư pháp cho tới khi nghỉ hưu năm 2010. Ở cương vị nào, ông cũng giữ vững phẩm chất người lính Cụ Hồ: trung thực, liêm khiết, tận tụy với nhân dân.

Gia đình trải qua không ít khó khăn, nhưng ông bà luôn nương tựa, động viên nhau làm tấm gương cho con cháu. Trong các dịp kỷ niệm của cựu chiến binh hay sự kiện của đất nước, hai ông bà vẫn thường cùng nhau tham dự, từ Bắc chí Nam, để được nhìn lại Tổ quốc và ôn lại ký ức với đồng đội năm xưa.

Nỗi trăn trở lớn nhất của ông là nhiều đồng đội còn nằm lại đâu đó mà chưa tìm thấy hài cốt. Vì thế, ông tích cực tham gia các hội nhóm tìm kiếm mộ liệt sĩ, mong góp phần giúp đưa họ trở về với gia đình.

Câu chuyện của cựu chiến binh Nguyễn Xuân Trường là lời nhắc nhớ về những năm tháng chiến đấu oanh liệt, những hy sinh thầm lặng và ý chí kiên cường của lớp người đã góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân 1975 lịch sử.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn