Cựu chiến binh: Phạm Bá Vân
Ông nội tôi là một người lính đã từng trải qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt của thời hoa lửa. Những câu chuyện lịch sử mà ông kể luôn khiến tôi vô cùng ngưỡng mộ và xúc động. Đối với tôi, ông không chỉ là người ông hiền từ trong gia đình mà còn là một người anh hùng thầm lặng của Tổ quốc.
Khi còn trẻ, ông nội tôi đã tình nguyện nhập ngũ, tham gia kháng chiến chống giặc ngoại xâm để bảo vệ đất nước. Ông rất ít khi nhắc đến những trận đánh ác liệt, những đêm dài nằm trong hầm trú ẩn hay những người đồng đội đã ngã xuống. Có lẽ, đó là những ký ức đau thương mà ông không muốn nhắc lại, nhưng lại là một phần không thể quên trong cuộc đời ông.
Những buổi tối khi tôi còn nhỏ, ông thường ngồi ngoài hiên kể chuyện cho tôi nghe. Vừa kể, ông vừa đưa mắt nhìn về phía vầng trăng sáng trên bầu trời, ánh mắt xa xăm như đang sống lại những năm tháng chiến tranh đầy gian khổ. Tôi từng tò mò hỏi ông về những điều ông đã trải qua, nhưng ông chỉ khẽ lắc đầu và mỉm cười hiền hậu. Đến khi đất nước hoàn toàn hòa bình, ông trở về làng, sống một cuộc đời giản dị bên bà tôi trong ngôi nhà nhỏ. Ông làm ruộng, trồng rau, nuôi gà để chăm lo cho gia đình. Dù không còn cầm súng nữa, nhưng ông vẫn “cầm bút” dạy dỗ con cháu về lòng yêu nước, về ý chí kiên cường và tinh thần vượt khó.
Ông thường nói với tôi rằng chiến tranh đã dạy cho ông biết trân trọng hòa bình, dạy ông sống giản dị, biết yêu thương và giúp đỡ những người xung quanh. Những đêm mất điện, tôi lại được ngồi bên ông nghe kể chuyện thời hoa lửa: nào là những lần sơ tán trong hầm, tiếng bom rơi đạn nổ vang trời, những người đồng đội cùng nhau chung sức chiến đấu chống lại kẻ thù. Ông là một trong những người may mắn còn sống sót trở về, nhưng nhiều đồng đội của ông đã mãi mãi nằm lại chiến trường. Ông không kể nhiều, nhưng từng lời nói của ông cũng đủ để tôi hiểu rằng tự do, hòa bình hôm nay phải trả bằng biết bao máu xương và nước mắt.
Sau vườn nhà, ông tôi còn trồng một luống rau xanh. Mỗi lần rau lớn, ông lại bảo bà hái đem chia cho hàng xóm mỗi nhà một ít. Ông bảo: “Sống là phải biết sẻ chia.” Những việc làm nhỏ bé của ông khiến tôi càng thêm kính trọng và yêu thương ông hơn.
Rồi theo thời gian, ông tôi ngày một ốm yếu, bệnh tật khiến sức khỏe ông dần suy giảm. Dù vậy, trái tim ông vẫn luôn hướng về gia đình và Tổ quốc. Vài năm sau, ông bị đột quỵ, đôi chân không còn đi lại được nữa. Bà, cô chú và cả gia đình thường xuyên quây quần bên ông để chăm sóc. Một buổi chiều đi học về, tôi bàng hoàng nghe tin ông đã ra đi mãi mãi. Trong lòng tôi lúc ấy là một khoảng trống lớn, một nỗi buồn không gì có thể lấp đầy.
Dù ông không còn bên cạnh nữa, nhưng những lời dạy bảo của ông vẫn luôn khắc sâu trong tim tôi. Đối với tôi, ông là người vĩ đại, kiên cường và mạnh mẽ, là biểu tượng sống động của tinh thần thời hoa lửa anh dũng. Mỗi khi nhớ đến ông, tôi lại ra hiên ngồi nhìn lên bầu trời và tự nhủ rằng mình phải cố gắng học tập thật tốt, ngoan ngoãn nghe lời bà và bố mẹ để không phụ lòng ông và những chiến sĩ đã hy sinh vì nền hòa bình hôm nay.
Thời hoa lửa đã lùi xa, nhưng tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm và sự hy sinh của thế hệ đi trước như ông nội tôi sẽ mãi là ngọn lửa soi sáng cho thế hệ trẻ chúng em hôm nay. Em nguyện sống tốt, học tốt và rèn luyện bản thân để xứng đáng với những gì ông và bao người đã đánh đổi bằng cả cuộc đời mình.



