Cựu chiến binh Phạm Tiến Lăng (15/5/1951)
Trong hành trình dài của lịch sử dân tộc, có biết bao cuộc đời đã hóa thành hình dáng đất nước, có biết bao tuổi xuân đã rực cháy như những đóa hoa lửa cho đất nước nở hoa độc lập, kết trái tự do. Và chính ông ngoại của em cũng góp một phần tuổi xuân rực cháy của mình để giúp đất nước “nở hoa” và “kết trái”. Với riêng em, câu chuyện thời hoa lửa của ông ngoại sẽ luôn là kí ức oanh liệt và thiêng liêng nhất mà em được trao truyền từ chính ông.
Vào năm 1968, có một cậu thanh niên khi ấy mới chỉ 17 tuổi, mang trong mình biết bao những hoài bão và ước mơ, cậu bé ấy đã xung phong nhập ngũ. Tuy tuổi còn trẻ nhưng trong lòng ông luôn có một suy nghĩ giản dị và thiêng liêng: “Tổ quốc đang gọi, đất nước đang cần, tuổi trẻ mình không thể đứng ngoài”. Bằng chính những khát vọng cao cả và mãnh liệt ấy, ông đã chọn huấn luyện tại trường Thông tin quân chủng phòng quân- không quân trong vòng 1 năm và được điều động vào nam để chiến đấu. Từ một cậu bé còn nhiều bỡ ngỡ, giờ đây ông đã trở thành một chiến sĩ kỷ luật, bản lĩnh và sẵn sàng hành quân khi Tổ quốc cần. Tại chiến trường trong nam, ông tham gia chiến dịch Lam Sơn 719 năm 1971 tại Bắc Quảng Trị- Đường 9 nam Lào- một chiến trường vô cùng khốc liệt. Bom đạn ngày đêm, gian khổ thiếu thốn nhưng ông cùng đồng đợi vẫn bám trụ, giữ vững tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.
Sau chiến thắng vang dội của chiến dịch ấy, ông quay trở lại miền bắc, tiếp tục phục vụ trong lực lượng phòng không với nhiệm vụ làm lính báo vụ tiêu đồ, dẫn đường cho máy bay ta đánh địch. Đây là công việc đòi hỏi sự dũng cảm, tập trung tuyệt đối bởi chỉ cần một sai sót nhỏ cũng có thể khiến quân ta đánh mất thế trận. Mỗi khi nghe ông kể, em cảm thấy khâm phục ông vô cùng. Em luôn tự hỏi: “Sao ông có thể dũng cảm đến thế?”. Và em hiểu ra rằng, sức mạnh lớn nhất của con người không nằm ở vũ khí trong tay mà ở ý chí sắt đá và trái tim luôn hướng về Tổ quốc. Năm 1972, ông tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ trên không- 12 ngày đêm lịch sử với vai trò là một người lính báo vụ, tiêu đồ. Ông vẫn thường kể đó là những ngày căng thẳng nhất nhưng đó cũng là những ngày mà ông tự hào nhất đời mình- khi cả dân tộc hợp sức đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng B52 của Mỹ
Ông vẫn luôn kể với con cháu của mình về những ngày tháng ấy với niềm tự hào to lớn. Ông tự hào vì mình được sinh ra và trường thành trong một thời đại vẻ vang; tự hào vì được đóng góp dù chỉ là một phần nhỏ bé sức lực của mình trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giành lại nền độc lập cho dân tộc. Ông luôn nói với em: “Tuổi trẻ không có gì quý hơn được sống, được chiến đấu và cống hiến cho Tổ quốc.”
Với nhiều thành tích vang dội trong kháng chiến, năm 1973, ông đã vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng, trở thành người chiến sĩ Đảng viên khi tuổi đời còn rất trẻ. Cho đến nay, ông đã được 52 năm tuổi Đảng- một chặng đường dài mà mỗi năm trôi qua là một dấu ấn của sự kiên trung, cống hiến.
Năm 1976, sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, ông xuất ngũ trở về quê hương. Mang theo những kí ức chiến trường không bao giờ phai, ông luôn tự hào và trân trọng thời tuổi trẻ vì đã sống hết mình với đất nước. Mỗi khi gợi lại câu chuyện thời hoa lửa của mình, giọng ông vẫn trầm ấm nhưng có lẽ, ẩn sâu trong chất giọng ấy lại chứa chan một niềm tự hào khôn xiết của một người lính đã đứng vững giữa bom đạn, đã góp phần bảo vệ bầu trời và tương lai của dân tộc.
Trước đây, bản thân em chỉ biết đến những cuộc chiến tranh qua những dòng chữ khô khan trong sách vở hay trong những thước phim tài liệu trên mạng. Nhưng khi được nghe chính ông kể lại cuộc đời của mình, em mới cảm nhận rõ thế nào là hi sinh, thế nào là gian khổ, thế nào là lòng dũng cảm thực sự. Mỗi khi nghe ông kể, lòng em lại dâng lên niềm tự hào khôn nguôi. Tự hào vì ông đã từng là một người lính kiên cường, từ khi ông mới chỉ là cậu học sinh lớp 8 đã biết đặt Tổ quốc lên trên cả tuổi trẻ của mình. Và tự hào vì ông ngoại đã góp một phần công sức của mình, dù nhỏ bé nhưng vô cùng ý nghĩa đối với các cuộc chiến tranh. Thật lòng, em vẫn luôn cảm thấy may mắn vì giờ đây, trong khung cảnh bình yên của đất nước, em được trực tiếp nghe ông kể lại cuộc đời oanh liệt của mình. Chìm đắm trong giọng nói thân thương ấy, em như được tận mắt chứng kiến sự khốc liệt, đau khổ khi đất nước chìm trong máu lửa và cũng như được tận mắt chứng kiến một tuổi xuân rực rỡ của ông mình khi tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Nhờ đó mà em càng hiểu hơn giá trị thiêng liêng của hai chữ “hòa bình” hôm nay. Hiểu được rằng những gì mà thế hệ trẻ ngày nay đang có đều được đánh đổi bằng mồ hôi, máu và nước mắt của bao thế hệ cha anh. Nhận thức được rằng hòa bình không chỉ là sự vắng bóng của tiếng súng mà còn là kết tinh của lòng quả cảm, của đức hy sinh và tinh thần bất khuất của cả một dân tộc. Do đó, thế hệ trẻ ngày nay không được phép sống vô ơn hay thờ ơ trước lịch sử. Trách nhiệm của mỗi chúng ta không phải là cầm súng ra trận như cha ông mà là cầm chắc tri thức trong tay, giữ vững lý tưởng trong tim và nuôi dưỡng khát vọng dựng xây đất nước. Mai này, khi trưởng thành, dù ở nơi đâu đi chăng nữa thì em vẫn sẽ luôn mang theo trong tim mình ngọn lửa rực cháy mà ông đã truyền lại- ngọn lửa của lòng yêu nước, cửa sự biết ơn và trách nhiệm. Qua câu chuyện, em mong rằng các bạn học sinh ở đây sẽ phần nào tìm được lý tưởng sống cao đẹp và đầy trách nhiệm với Tổ quốc. Đừng ngần ngại theo đuổi chúng, bởi: “Tuổi trẻ không có gì quý hơn được sống, được chiến đấu và cống hiến cho Tổ quốc.”



