CỰU CHIẾN BINH SƯ ĐOÀN SAO VÀNG TRÊN CAO NGUYÊN
Câu chuyện kể về chuyến thăm Kon Tum năm 2009 của tác giả và cuộc gặp gỡ xúc động với những đồng đội cũ của Sư đoàn 3 – Sao Vàng sau nhiều năm xa cách. Qua cuộc trò chuyện, các cựu chiến binh cùng ôn lại những kỷ niệm chiến đấu ác liệt trong chiến tranh, chia sẻ cuộc sống sau khi rời quân ngũ và tình đồng đội sâu nặng. Từ cuộc gặp ấy, họ đã thành lập Ban Liên lạc Cựu chiến binh Sư đoàn 3 tại Kon Tum, nhằm gắn kết, giúp đỡ nhau trong cuộc sống và tiếp tục phát huy truyền thống người lính trong th
Tháng 7 năm 2009, tôi lên Tây Nguyên thăm người thân ở KonTum và Lâm Đồng. Đang vui chuyện nhà, chuyện xã hội trên vùng đất cao nguyên, bỗng cháu trai tôi – một cán bộ Hội Đồng nhân dân Thị trấn nói:
- Chú là người của Sư đoàn 3 - Sao Vàng phải không, ở Thị trấn này cũng có người của Đoàn Sao Vàng đấy.
Tôi sốt sắng hỏi:
- Thật vậy không? Là những ai? Tên gì?
- Có bác Ngô Tùng Phong hiện đang làm tuyên giáo Thị ủy và anh Ngô Đức Bằng là một doanh nhân có tiếng.
Không thể trì hoãn được niềm vui, ngay tối hôm đó, dù trời đang lắc rắc mưa, tôi vẫn nhờ cháu đưa tới thăm anh Phong.
Đúng là anh Phong rồi, thời cùng sống với nhau (1983-1988) anh là Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Chính trị Sư đoàn (như Chính ủy Sư đoàn hiện nay), tôi là Trưởng Ban biên soạn Lịch sử Sư đoàn.
Không cần phải giới thiệu, anh nhận ra tôi ngay, chứng tỏ anh vẫn còn minh mẫn. Anh và tôi đã từng gắn bó với nhau trong các công trình lịch sử cơ bản của Sư đoàn, như: “Ký sự lịch sử Sư đoàn 3 Sao Vàng”, phim tài liệu lịch sử “Ngôi sao rừng dừa” và công trình xây nhà truyền thống Sư đoàn ở xã Mai Sao (huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn). Anh chủ trì công tác Đảng, công tác Chính trị của Sư đoàn nên thường xuyên dự các cuộc hội thảo khoa học về các công trình trên. Bản tính hiền lành, giản dị, nói năng chậm rãi, sâu sắc, anh thường góp những ý kiến giá trị, chứng tỏ là người được đào tạo cơ bản qua các trường quân đội. Đặc biệt, anh tỏ ra thông cảm với những người viết của chúng tôi nên thường quan tâm tới công tác bảo đảm kinh phí và cơ sở vật chất. Anh nói: Để viết được một chữ phải đọc nghìn chữ. Để viết được một trang phải đọc nghìn trang. Phải tạo điều kiện cho anh em bù đắp chất xám ấy. Công bằng mà nói, sự hoàn thành các công trình lịch sử trên đây của Sư đoàn, có vai trò đóng góp tích cực của anh (mặc dù anh không lớn lên từ chiến sỹ Sư đoàn).
Thấy anh khỏe, không khác gì mấy so với 21 năm trước, lại có phần trắng ra, mập hơn, tôi rất mừng. Anh kể về quãng thời gian sau khi rời khỏi Sư đoàn, luôn phải xốc vác gánh nặng gia đình. Anh về hưu với cái dạ dày bị cắt, túi mật, đại tràng bị viêm, tưởng sẽ “tàn”, nhưng anh đã biết sống chung với bệnh và tìm những công việc xã hội để quên bệnh tật. Tham gia hai khóa Chủ tịch Cựu Chiến binh xã ở quê Thanh Hóa. Tham gia mấy khóa liền Chủ tịch Hội Người cao tuổi huyện Ngọc Hồi (Kom Tum) và mấy năm nay làm Phó Ban tuyên giáo cho Đảng ủy Thị trấn Plây- cần, Phó Ban Chỉ đạo cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của Đảng bộ Thị trấn. Nói nghỉ hưu nhưng nào nghỉ việc. Trợ cấp các chức vụ trên không đủ cho tiền xăng xe, nhưng cái được là niềm vui thấy mình còn có ích cho xã hội, cho cộng đồng, được cộng đồng tin yêu.
Anh tâm sự: Trở về Ngọc Hồi định cư không chỉ vì ở đây, gia đình anh, các em, các con anh đã tới cư trú hàng chục năm trước, mà riêng anh, Ngọc Hồi vốn là chiến trường quen thuộc trong những năm đánh Mỹ. Trong trận ĐắcTô - Tân Cảnh năm 1972, anh và một số đồng đội đã từng nắm tay nhau thề: “Cảm tử để giữ vững trận địa” suốt hàng tuần lễ liền trên đồi Ngọc Hồi...
Không đợi tôi đến tìm, vừa nghe cháu tôi báo tin tôi lên chơi, anh Ngô Đức Bằng liền đội mưa phóng Hon-đa tới. Vừa nhìn thấy tôi, anh đã reo lên:
- Anh là anh Tích? Sao bây giờ anh mập vậy? Nhưng tôi nhận ra nụ cười của anh, một người luôn lấy nụ cười ra để “hoãn binh” khi chưa thể trả lời ngay một vấn đề nào đó. Và không để tôi hỏi, anh nói liên hồi rằng: “Xưa kia anh gầy, nhỏ, thấp, tóc thưa luôn chải ngược và thường đi dày ba-ta màu trắng để dạo phố Vũng Tàu sau 30 tháng 4 năm 1975...”
Quả là tôi không còn nhớ những tình tiết ấy và cũng không nhớ con người “đã từng ôm ngang lưng tôi rồi nhấc bổng lên trên đường Trần Quang Khải, thành phố Vũng Tàu vì mừng vui” như anh nói. Nhưng trước sự nồng nhiệt khẳng định của anh, tôi dần nhớ ra và phải thừa nhận Bằng có trí nhớ cực tốt. Đã 34 năm rồi mà anh vẫn nhớ tới tôi, một trợ lý tuyên huấn của Sư đoàn năm đó xuống đơn vị để viết gương chiến đấu và nắm tình hình tư tưởng bộ đội, nhân dân.
Bằng nhớ tường tận rằng, thời điểm ấy, Thành phố vừa giải phóng, cán bộ chính trị Sư đoàn, Trung đoàn xuống đơn vị chỉ lo giáo dục bộ đội sống giản dị, khiêm tốn, không nhẹ dạ, cả tin, không ảnh hưởng lối sống buông thả của nam nữ thanh niên vùng địch kiểm soát lâu năm. Bởi lúc đó, nhiều quãng đường phố Vũng Tàu, đêm đêm là tụ điểm của trai gái làng chơi. Thậm chí trước mặt nhau, từng đôi, từng đôi lấy ngay vỉa đường làm giường nằm, vì các nhà chứa, các khách sạn đã bị đóng cửa.
Bằng nhắc tới “sự kiện” lý thú là một buổi chập choạng tối, tôi cùng Bằng đi dạo phố, Bằng to cao, đẹp trai, tôi thấp nhỏ không lấy gì hấp dẫn lắm. Chợt nhìn thấy hai cô gái mặc đồ đen (thời điểm đó, không hiểu vì lý do gì mà các cô gái điếm đều mặc đồ đen).
Tôi đặt ngón tay lên môi huýt sáo, lập tức một trong hai cô lên tiếng:
- Các anh đi theo em xuống cuối phố, đối với Quân Giải phóng chúng em miễn phí.
Bằng huých vào người tôi:
- Anh thấy chưa, ranh giới giữa sự trong sạch và bẩn thỉu ở đây thật mỏng manh. Còn trẻ như bọn em dễ “ làm thử” lắm.
Với tâm trạng của một người đã bị dồn nén ký ức hơn 30 năm chưa gặp người cảm thông, chia sẻ, Bằng kể hết, nhắc hết hàng loạt kỷ niệm về cuộc đời người báo vụ luôn đi theo “Đài kẹp nách” (đài 15w biệt phái đi phục vụ tuyến trước). Anh kể: Trước mở màn Chiến dịch Xuân 1975 của Sư đoàn, bộ phận chỉ huy tiền phương của Trung đoàn 68 Pháo binh (trong đó có trinh sát và tổ đài 15w) đang trên đường trèo lên đỉnh núi Ông Bình (đường 19, tỉnh Bình Định ) thì lọt vào ổ phục kích của địch. Một chiến sỹ mới tỏ ra dao động, định bỏ chạy. Bằng quát to: “Đứng lại! Nếu bỏ chạy, tôi bắn. Tôi còn, đồng chí còn. Không phải sợ”. Người lính đó đã bình tâm trở lại vị trí vác máy của mình. Bọn địch đánh nhau với trinh sát của ta, không phát hiện ra bộ phận chỉ huy. Lại một lần (Bằng kể tiếp), trong chiến dịch Xuân 1972, anh được lệnh trực tiếp đi chuyển mật điện từ phía trước về sở chỉ huy cơ bản. Khi qua cánh đồng thôn Bình Hòa (huyện Hoài Ân), bất ngờ bị “tàu rọ” (một loại trực thăng trinh sát vũ trang của địch) quây bắt. Trong tay lúc đó chỉ có lựu đạn. Bằng lom khom chạy men bờ ruộng. Chiếc “tàu rọ” chúc đầu bắn trọng liên xối xả. Anh xác định : trúng đạn chết thì thôi, quyết không để chúng bắt. Nếu chúng thả thang dây xuống, anh sẽ ném lựu đạn lên máy bay. Nghĩ vậy, Bằng liều chạy dích dắc giữa ruộng trống, không cho chúng bắn trúng. Cuối cùng, anh tới được bờ sông Kim Sơn, tuột người xuống bờ vực. Chiếc trực thăng mất mục tiêu, bắn vu vơ một lúc rồi chuồn thẳng. Anh rút ra một điều là trực thăng muốn bắn trúng phải ổn định hướng bắn, nếu mình làm cho hướng bắn của nó luôn thay đổi thì nó phải lấy lại vòng lượn. Đó là cơ hội cho ta thoát thân.
Lại một lần, trước ngày nổ súng đánh vào Ninh Thuận (tháng 4 năm 1975), đơn vị hành quân từ Bình Định vào tới ga Suối Cát (Khánh Hòa) thì được lệnh rẽ phải. Khoảng 16 giờ, địch dùng máy bay tới ném bom vào đội hình trung đoàn. Bộ đội nhanh chóng tản ra. Do địa hình mới lạ, Bằng bị lạc vào vườn mía bạt ngàn, mất phương hướng. Trời đã tối mà địch vẫn ném bom. Khi hết máy bay, Bằng ghé tai xuống đất lắng nghe tiếng rung do ô tô chạy để tìm đường ra. Khoảng 24 giờ mới tới được đường lớn. Nhiều xe tải, xe kéo pháo bị cháy, lửa còn leo lét. Quanh đó có bóng người qua lại. Bằng nấp vào một bụi cây, gọi mật khẩu: “Hồng Hà đây”. Một người từ bên kia trả lời: “đây Cửu Long”. Anh sung sướng chạy ra. Rất may, đó lại chính là đại đội của anh. Gặp đài trưởng Nguyễn Đình Thọ, Thọ vui mừng nói: “bom ném như vậy tưởng mất mày rồi. Mày về là quá tốt. Khẩn trương lên, đã mất liên lạc với trên từ chập tối đến giờ”. Bằng bảo đồng chí Đông trèo lên cây xoài vắt ăng ten dây và mấy phút sau, đài đã liên lạc được với Sở Chỉ huy Trung đoàn.
Khoảng 5 giờ sáng ngày 14 tháng 4 năm 1975, pháo binh Sư đoàn đã bắn hàng ngàn đạn pháo vào các trận địa địch, từ sân bay Thành Sơn đến cửa ải Du Long. Khói lửa ngút trời. Niềm hạnh phúc của người chiến sĩ đài 15W chính là nối thông nhịp cầu chỉ huy để tạo nên những cơn bão lửa như vậy.
Bằng kể say sưa tưởng như không bao giờ cạn những kỷ niêm, từ chuyện chiến đấu đến tình cảm quân dân. Tôi thực sự thông cảm với anh vì có lẽ từ lâu lắm rồi, chưa có ai cùng hiểu để cho anh chia sẻ những ký ức của mình về Sư đoàn mà lúc nào anh cũng tự hào và mong nhớ.
Qua anh Phong, anh Bằng, tôi biết ở huyện Đăk Hà còn có một số cựu chiến binh Sư đoàn 3 đang cư trú. Tôi bàn với anh Phong nên tổ chức một Ban Liên lạc. Các anh đồng ý ngay và sáng hôm sau, Bằng nhảy xe buýt đi Đăk Hà. Chiều về, Bằng cho biết, ở Đăk Hà có 10 người là CCB của Sư đoàn 3 do anh Nguyễn Xuân Bường làm nhóm trưởng. Tuy chưa thành tổ chức nhưng anh chị em vẫn thường găp nhau hàn huyên.
Thế là kế hoạch thành lập BLL Cựu Chiến binh Sư đoàn 3-Sao Vàng ở Đăk Hà-Ngọc Hồi (tỉnh Kon Tum) được hình thành. Một tuần lễ sau, ngày 19 tháng 7 năm 2009, tại nhà đồng chí Nguyễn Xuân Bường, Ban Liên lạc Sư đoàn 3 Sao Vàng được thành lập với tên gọi hoàn chỉnh là: “Ban Liên lạc Cựu Chiến binh Sư đoàn 3 – Sao Vàng Khu vực tỉnh Kon Tum” . Đồng chí Nguyễn Xuân Bường, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Vận tải Sư đoàn làm Trưởng ban và đồng chí Ngô Tùng Phong, nguyên Phó Sư đoàn trưởng về Chính trị làm cố vấn.
Với sự chu đáo vốn có, đồng chí Bường đã mượn đủ lễ phục quân đội cho các hội viên trong buổi ra mắt. Niềm vui, niềm tự hào của họ lan tỏa sang cả vợ (hoặc chồng) và con hội viên được mời dự hôm đó.
Số lượng hội viên không nhiều, nhưng nghĩa tình sâu nặng và trách nhiệm cao. Mọi người nhanh chóng xác định, vừa góp tiền gây quỹ để thăm nhau vừa cho BLL vay (không tính lãi) để lập quỹ giúp đỡ hội viên khó khăn. Ngay hôm đó, quỹ của BLL đã huy động được hơn 15 triệu đồng. Liền sau đó, cho một hội viên vay để làm nhà cho con trai. Anh Bường nói với tôi: “Việc cho hội viên vay, vừa giúp đồng đội (vì lãi suất thấp hơn lãi suất ngân hàng) nhưng đó cũng là cách để phát triển quỹ. Càng có nhiều người vay, quỹ càng chóng lớn”. Bường còn nói rằng, anh sẵn sàng bỏ tiền gia đình để giải quyết việc thường ngày cho BLL, còn quỹ của BLL dành để cho vay. Cuối năm anh thanh toán với BLL một thể . Đúng là một nghĩa cử đáng quý.
Trong BLL, anh Bường là người cao tuổi nhất ( 73 tuổi ), vào bộ đội sớm nhất ( năm 1959 ). Sau khi tái ngũ, anh vào chiến trường (năm 1967), ở Đại đội Hỏa lực Trung đoàn 12, sau đó về làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 19 Vận Tải. Năm 1988, anh xin nghỉ hưu về quê Lý Nhân, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc làm Hội trưởng CCB xã. Năm 1996, anh đưa vợ con vào lập nghiệp tại thị trấn Đăk Hà đến nay.
Bán hết mọi tài sản ở quê, anh mua được ba ngàn mét vuông đất vườn, dành một ngàn mét làm ao nuôi thủy sản. Phát huy tinh thần tự lực, anh xem ti-vi (chương trình VTV2) để nắm bắt kỹ thuật, vào Nam Bộ mua gống ba ba, ra Hà Tĩnh mua giống ếch, lên trại khuyến ngư của huyện mua giống cá quả. Vụ đầu tiên thua lỗ. Hơn một ngàn con ba ba thương phẩm vượt bờ ao đi mất. Rút kinh nghiệm, anh xây lại ao đúng tiêu chuẩn nên vụ tiếp theo thu nhập một trăm triệu ba ba thịt. Qua nghiên cứu thị trường các tỉnh phía Bắc (Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương), anh chuyển sang nuôi ba ba giống. Vụ đầu lại thua lỗ do trứng ba ba chỉ nở được 30%. Anh lại nghiên cứu thử nghiệm cho ba ba ấp nở theo môi trường tự nhiên. Kết quả, 90% trứng nở. Thành công đó đã đem lại cho anh lợi nhuận hơn 30 triệu đồng. Từ đó đến nay, thu nhập từ nuôi thủy sản của gia đình hàng năm hơn một trăm triệu. Trừ mọi chi phí, còn lãi bốn, năm chục triệu. Cuộc sống dư dật. Anh quyết định đầu tư cho đồng đội cùng nuôi ba ba (3 người) trên 40 triệu đồng, khi nào có lãi mới trả vốn cho anh. Đúng là tình cảm của người lính trận vẫn trong sáng, vô tư.
Niềm vui của anh giờ đây, như anh nói là mong được đón tiếp đồng đội và bạn bè tới thăm để hàn huyên kỷ niệm và chia sẻ cách làm giàu. Nhà anh ở trong một thị trấn nhỏ vùng cao nhưng trông như một khách sạn mi-ni. Kiến trúc bên ngoài theo cổ truyền nhưng nội thất khá sang trọng. Các cửa lớn, nhỏ đều căng ri-đô. Đầu nhà có gian lồi tới mép ao để ngồi ngắm cảnh ao vườn. Mặt ao có những cột, bồn làm cảnh. Trong tán lá bèo tây (cây lục bình) lúc nhúc những đàn ba ba và ếch thương phẩm. Ở một khu cát nhân tạo cuối ao, đúng dịp trứng ba ba nở, từng đàn ba ba con bằng chiếc nắp bia đen thui, đội cát bò lên rồi thi nhau lao xuống ao như có ai rượt đuổi, trông thật vui mắt. Hệ thống nước tưới, tiêu vừa tôn vẻ đẹp của ao vườn, vừa làm sạch môi trường cho thủy sản sinh sôi. Một cảm giác tươi mát lan tỏa trong mỗi chúng tôi khi đứng tham quan khu ao sinh thái nhà anh.
Ban Liên lạc Sư đoàn 3 Sao Vàng Khu vực Kon Tum ra đời muộn nhưng tổ chức khá bài bản. Điều lệ (bản quy ước) chặt chẽ, có văn bản trình lên Mặt trận Tổ quốc, Hội Cựu chiến binh và chính quyền Huyện, Tỉnh. Có bản tin gửi lên đài phát thanh và truyền hình, khẳng định với địa phương rằng: Ban Liên lạc là một tổ chức tự nguyện và tình nghĩa, sẽ tích cực hoạt động xã hội góp phần xây dựng Cuộc Vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” của địa phương. Nhiều người trong ban liên lạc đã từng lập công trong đánh Mỹ xâm lược, thể hiện lòng trung kiên của mình như Nguyễn Trọng Dưỡng, một chiến sỹ Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 12 làm nhiệm vụ trinh sát thọc sâu, bị địch bắt năm 1968. Vào tù, mấy lần vượt ngục không thành, bị đòn roi tàn bạo nhưng vẫn giữ vững khí tiết cho đến ngày trao trả ( 1973). Chị Trần Thị Thanh Mai, một trong những y tá xuất sắc của Sư đoàn, được cử đi học ở Quân khu V. Tốt nghiệp, tình nguyện lên Tây Nguyên công tác, được bầu làm Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc huyện Đắc Hà và Chủ tịch Hội Cựu Thanh niên xung huyện. v.v...
Điều đáng mừng là trong chiến tranh họ đã giữ vững vai trò của mình, ngày nay trong trận chiến mới, nơi vùng đất mới, họ vẫn phát huy truyền thống Sư đoàn 3- Sao Vàng “Bám đất, bám dân, tự lực, tự cường...” vươn lên làm giàu chính đáng, xóa mọi định kiến cho rằng: Bộ đội chỉ biết đánh giặc, không biết làm kinh tế. Giữa những khu đô thị mới hiện nay, đồng chí nào cũng có hàng ngàn mét vuông đất ở, nhà cửa khang trang. Đất vườn có đồng chí một vài hecta, có người làm được khách sạn, nhà nghỉ, nhà cho thuê. Kinh tế đồng chí nào cũng khá giả, có người thuộc hàng tỷ phú. Tỷ phú nhưng vẫn quan tâm đến việc nghĩa, việc tình, việc từ thiện. Đáng quý là ở chỗ đó.
Chia tay anh chị em CCB Sư đoàn ở Ngọc Hồi và Đắc Hà, chiếc điện thoại di động trên tay tôi suốt cả buổi sáng luôn nhận tin các đồng đội gửi tới cầu chúc “Thượng lộ bình an, hẹn ngày tái ngộ”. Vâng! Với tình cảm của các đồng chí như vậy, tuy chưa nhận lời “tái ngộ” nhưng trong tôi thầm nghĩ: hàng năm, vào dịp hè, tránh mùa nóng ở Thủ đô thì Ngọc Hồi – Đắc Hà là điểm đến lý tưởng. Lý tưởng về thiên nhiên, môi trường, và lý tưởng về tình người, tình đồng đội.


