Cựu chiến binh tại Quảng Trị - ĐINH VĂN CHIẾN
Cựu chiến binh tại Quảng Trị
HỒI ỨC CỰU CHIẾN BINH ĐINH VĂN CHIẾN
Ngày 12 tháng 1 năm 1972. Tôi chính thức nhập ngũ và tham gia lực lượng bộ binh được huấn luyện của sư đoàn 320 B để chúng tôi làm nhiệm vụ đi B, sau ba tháng huấn luyện tại Thanh Hóa chúng tôi chuyển sang học hỏa lực để bổ sung vào chiến trường, chúng tôi được học hỏa lực gồm có DKZ 12 ly 7, khối D82 và đại liên. Tôi thì được học DKZ sau học xong chúng tôi được biên chế thành khẩu đội 12 người với hai khẩu DKZ và mỗi khẩu đội sáu người và mang vào tận chiến trường với số đạn là 12 viên, vào trong đó chúng tôi tiếp tục bổ sung để chiến đấu tại Quảng Trị. Từ Thanh Hóa tiến trình Quảng Trị chúng tôi đêm đi ngày nghỉ, vừa đi vừa huấn luyện đúng ba tháng, đến tháng 6 chúng tôi đến giáp bờ sông bến Hải tức là xã Vĩnh Trọng, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Phải nói thời điểm đó là chiến tranh thì vô cùng khốc liệt ngay trên đường chúng tôi vào đã gặp những cảnh mà người dân ở Quảng Trị từng đoàn người lam lũ, người ta di chuyển ra ngoài Bắc. Bom đạn ở cả hai bên, dân là người gánh chịu, dân rất là khổ đa số toàn người già, trẻ em. Người ta đi ra từ xã Vĩnh Trọng ở ngoài đó còn chúng tôi đi vào chiến trường, đi qua thấy rất là khổ, không chỉ có những người dân di cư mà dọc đường gặp những cái đồng đội của mình đầu quấn khăn trắng, có người thì bị cụt tay, có người thì chỉ có một chân phải chống nạng, có người phải cáng. Một đoàn người lặng lẽ trong đêm, chúng tôi tiến vào thì họ tiến ra trong một cái khung cảnh chiến tranh tàn khốc. Chúng tôi quán triệt cho những đồng đội của mình và những chiến sĩ của mình luôn quyết tâm sẽ chiến đấu hết mình vì một nền hòa bình và độc lập dân tộc. Phải nói thời điểm đó, thời tiết rất khắc nghiệt ngày nắng như đổ lửa đêm hành quân thì lại mưa và chúng tôi cứ đội mưa đi cả đêm. Ngày nghỉ lấy sức đêm lại đi để đảm bảo thời gian có mặt ở chiến trường và đúng thời điểm ngày 26 tháng 6. Chúng tôi có mặt ở mặt trận chiến trường và trực tiếp tham gia chiến đấu luôn.
Có một kỷ niệm ở chúng tôi không quên đó là khi lần đầu tiên chúng tôi tiến vào trong chiến trường, giữa một cái khung cảnh tan hoang bom đạn không có một cái mái nhà nào nguyên vẹn, không có một cây nào còn cao quá đầu người, ngổn ngang cát gạch, chiến trường ám tiếng khói và bom đạn. Đầu tiên vào chiến dịch chúng tôi bị một loại pháo dàn của địch, loai pháo nổ trên đầu là pháo chơm đấy khoảng cách hơn 10m nó chụp xuống, chụp xuống đội hình, tiếp nữa là cái máy bay tiêm kích của địch nó bắn pháo, phóng hỏa tiễn từ trên cao xuống hoặc pháo bắn từ căn cứ bãi Cát Sơn nó bắn ra, bắn trúng đội hình của đại đội. Lúc đó lực lượng là bị tan nát anh em mỗi người một nơi người thì chạy sang ngang, người chạy về trước, người lùi phía sau, thương vong một số, chúng tôi phải chuyển ra phía ngoài, sau trận pháo kích bất ngờ đó chúng tôi củng cố lại đội hình, tập hợp lại được và tiếp tục đào hầm tại chỗ, nhận lệnh là chiến đấu tiếp, sau trận đó tôi cũng bị thương nhẹ ở chân được y tá băng bó lại, sau đó chúng tôi lại tiếp tục hành quân tiếp, khi vào trận địa thì cứ ba người một tổ đào hầm, trang bị gồm một bình tông nước, một cơ số lưu đạn và súng cá nhân là AK, một cuốc chim, một xẻng đào hầm và ngủ luôn dưới hầm để tránh bom đạn và cũng tránh được thương vong, trên trận địa thì không thể ngủ trên mặt đất được toàn ngủ dưới hầm, khi đánh địch thì cùng xung phong lên.
Tôi là tiểu đội phó, tôi nhớ có anh là Nguyễn Xuân Ngụ, người xã Kim Đồng anh ấy là một thợ mộc rất giỏi, mỗi khi tiểu đội đào hầm dùng cuốc chim đào đá ong, khi đào hầm thì cái cuốc chim thường bị bật ra không thể dùng được. Mỗi lần hỏng như thế thì tôi điều anh Ngụ ở phía dưới là làm thế nào để phát huy thế mạnh của thợ mộc làm sao sửa cái cuốc thành vừa ngắn gọn, vừa chắc và cách chêm búa tốt không bao giờ bị rời ra khỏi cán cả. Sau giải phóng tôi có gặp lại anh anh vẫn làm thợ mộc và sau này anh cũng bị mất do bị bệnh. Môt đồng chí nữa đào hầm rất khỏe là anh Nguyễn Xuân Hùng người Phù Lưu, huyện ứng Hòa, anh rất là khỏe người đen nhẻm còn anh em sinh viên chúng tôi không khỏe bằng anh ấy được, đào một lúc đã bở hơi tai rồi cứ thế nằm ở trên hoặc là đào nông, anh ấy thì đào rất là khỏe một mình anh ấy đào bằng ba suất của người khác nên khi đêm đậu hầm giao khoán cho mỗi người phải đào hai hầm, thường là anh ấy đào xong rồi ấy rồi anh ấy đào tiếp cho đồng đội, đấy mà kỷ niệm mà chúng tôi nhớ mãi khi chốt ở xã Gio Lễ, huyện Gio Linh, đấy là những kỷ niệm chúng tôi như thế, nói về thực tế thì trong chiến đấu không có thể là quân phục nó nguyên vẹn như thế này mỗi người chỉ có một bộ quân phục, nó rách bom tức là anh em để đấy cho nó gọn thì cái quần dài còn cắt đi để thành quần cộc để cho cơ động dễ dàng hơn và mỗi người chỉ có một cái khăn mặt phải dùng khăn mặt đó vừa lau mặt đồng thời nó dùng khăn mặt đó vắt mồ hôi vào trong bình tông, hết nước thì lại dùng, nước mình thải xong cũng cho vào đấy. Trong chiến trường để mình tạo ra những thuận lợi để duy trì cái sự sống và sức khỏe còn chiến đấu.
Bữa cơm trên chốt của lính ở Quảng Trị ngày đó gọi là bữa cơm khi mà anh nuôi trang bị cho một người một nắm cơm nắm trước khi ra trận, bản thân ngoài phần cơm nắm đó trong khẩu phần đó là có một bình tông nước một phong lương khô. đấy chính là khẩu phần của lính khi chiến đấu đó rất gọn nhẹ đến bữa thì chúng ta bỏ ra cơm nắm ra ăn, uống cái nước bình tông nước lọc ăn rất đơn giản không có gì cả còn không có cơm nắm thì chúng tôi đã có bánh lương khô một suất, nhiều khi là chúng tôi phải chia ra một ngày chỉ có bánh lương khô thôi, nước thì dùng rất tiết kiệm nước ở trong chúng tôi có mỗi ngày một bình tông , đa phần chỉ ăn lương khô uống nước lọc để chiến đấu. Chúng tôi giữ chốt thì cách cũng khoảng xa nhất thì cũng chỉ có 50 m thôi có thể bên kia là bên này là mình, cũng có một khoảng đất như thế rất gần nhau nên là khi đánh nhau thì mình luôn luôn cảnh giác có khi phải dùng nghi binh, anh em lúc nào cũng ở dưới giao thông hào, một cái dải đất dài như thế thì không phải một mình đơn vị chúng tôi chốt dưới lòng đất mà còn rất nhiều đơn vị phối thuộc, chúng tôi là hỏa lực khi mà đánh thì cùng nổ súng khi mà chúng xông lên thì chúng tôi dùng lựu đạn rồi các hướng AK bắn điểm xạ. Khi tăng của địch xuất hiện thì chúng tôi có nhiệm vụ là phải vòng sang hướng cạnh sườn và chúng tôi bắn tạt sườn, bản thân chúng tôi trong cái trận đó trận Cưả Việt chúng tôi đánh tiêu diệt được một xe tăng M141, bị thương một xe tăng M148 và trận đó tôi cũng được mặt trận thưởng huân chương chiến công. Và sau đó chúng ta đã ký hiệp định Paris. Sau này 2 chiếc xe tăng này cũng được trưng bày tại Chợ Cầu.
Bản thân tôi trong trận chiến đấu ở Cửa Việt ấy chúng tôi đã ngủ với 1 đồng đội ở trong hầm và đồng đội hy sinh cách đấy mấy hôm rồi cũng nằm bên cạnh, bởi vì nếu đưa đồng đội lên trên thì bị pháo bắn lại chết lần thứ hai không còn gì hơn là phải đưa đồng đội xuống ngủ dưới hầm cùng mình để đơn vị cử lực lượng đưa các đồng đội về phía sau để mà an táng và chúng tôi chỉ có nhiệm vụ là đưa đồng đội và trong cái túi tử sĩ buộc lại đánh số đồng thời báo về phía sau đồng chí đã hy sinh để đơn vị cử người lên đưa về và chúng tôi cũng không thể đưa từ sĩ đó về được Cái chúng tôi sợ nhất đó là khi mà dùng những cái biện pháp thông thường nhất để xới dùng cái xẻng xới cát lên đặt đồng đội xuống, lấp đồng đội lại thì một thời gian sau cát nó sẽ di chuyển hôm nay thì ở đây mai mộ đồng đội nó lại trồi lên. Nhìn cái cảnh rất là thương tâm, thứ nữa nó là mùi tử sĩ là mình mới cảm nhận được. Mỗi lần bị bom pháo bắn trúng vào cái nơi mà mình chôn tử sĩ thì lúc đó cảnh tượng không thể tả được, cái cảnh đó thì chúng tôi đã chứng kiến rất là nhiều những đồng đội không phải hy sinh lần thứ nhất mà hy sinh lần thứ ba, khi mà hy sinh lần thứ nhất thì chúng tôi an tang, lần thứ hai bị cát đùn lên, lần thứ ba lại bị pháo giàn nó lại bắn trúng nữa. Nên là thấy người chiến sĩ đó là xương và máu đã hòa trong cát nó bị tan nát trong cảnh chiến trường, vì vậy sau này quy tập liệt sĩ thì chúng tôi chỉ thu gom được những cái di vật rất là ít còn lại, những mảnh xương hoặc là dây lưng, bình tông còn nhiều xác đồng đội là không còn gì. Sau khi hiệp định Paris xong thì chúng tôi đã có an táng ở xã Gio Hải, bản thân tôi cùng với đồng đội tôi đã có điều kiện khâm liệm cho đồng đội sau đó bán ba loạt AK để tiễn đồng chí đó. Đồng chí đó là người Mỹ Đức, Hà Tây, cũng trong chiến trường lúc đó chúng tôi cũng chỉ biết nói những lời như là lúc đồng chí còn sống “ Thôi, mày sống thôn chết thiêng phù hộ cho chúng tao luôn luôn khỏe mạnh để chiến đấu thắng lợi, để sau này chúng ta có dịp quay lại để thăm lại và đưa mày về tới nghĩa trang”, chỉ có những lời như thế thôi chứ còn không có những lời tốt đẹp hơn được.
Cái điều mong mỏi rất đơn giản đó là mong ngừng tiếng súng để cho mình được sống, đấy là cái mà chúng tôi chỉ mong thế thôi, hai nữa đó là mong sớm được về lúc đó thì nhớ nhà da diết sau khi mà không đánh nhau nữa thì chúng tôi chỉ nguyện vọng là được về nhà. Lúc đó thì anh em trong tiểu đội đoàn kết rất thương yêu nhau, ngày trong chiến trường thì nó gian khổ ác liệt thế nên là khi mà xong trận đánh đó khi ngừng tiếng súng và ký hiệp định Paris thì chúng tôi rất phấn khởi và anh em đều được vui vẻ và mong được về phép, thường mà mỗi lần khi nhớ nhà thì anh em là dở những là thư đọc cho nhau nghe, rồi anh em kể chuyện cái thời học sinh với nhau, dạy hát cho nhau, đọc thơ cho nhau nghe.
Những câu chuyện những hồi ức mãi in sâu vào trí nhớ tôi nhớ 1 ký ức lúc đó là ban đêm chúng tôi ngủ ở trận địa, lúc đó chốt thì chốt là ba người còn đơn vị chúng tôi tiểu đội thì thường ra ngủ cánh đồng là nơi an toàn nhất, địch thường hay đánh vào trong làng nên chúng tôi thường ra cánh đồng ngủ, ở cái vùng hồi đó thời điểm mưa lũ miền Trung rất là khốc liệt ở trên chúng ta phải phải ngủ trên một cái bờ mương ở những cái gò trải ra và ngủ trên đó thôi. Sau khi qua đêm chúng tôi lại lập tức về chốt. Trong một trận B52 đánh ở Quán Ngang vị thủ trưởng của tôi là đồng chí Nghiêm Kình, khi đó đồng chí là phó chính ủy sư đoàn 320B, đồng chí bị B52 và hy sinh tại đó, lúc đó đơn vị đã cử chúng tôi để bảo vệ thi thể của thủ trưởng để đưa ra miền Bắc, chúng tôi làm nhiệm vụ hỏa lực tiếp cận đến vùng B52, cũng không thể tưởng tượng được là B52 nó khốc liệt như thế, sau một đêm tới sáng hôm sau đến khu Quán Ngang thì nó biến dạng hết, tất cả khung cảnh của đồn Quán Ngang tan hoang. Vị thủ trưởng ngày đó bị B52 và hy sinh, anh em rất là thương xót chỉ biết đứng ngả mũ chào để đưa thủ trưởng về tuyến sau, sau khi đưa thủ trường về tuyến sau thì chúng tôi viết tâm thư đến đau thương thành hành động để trả thù cho thủ trưởng, thủ trưởng lúc đó là đang giữ quân hàm Trung tá phó chính ủy sư đoàn 320B, sau đó đồng chí đã được an táng tại ngoài phía Vĩnh Linh và được quy tụ về nghĩa trang quê nhà, còn một trường hợp anh trung đội trưởng anh với người Bắc Ninh là người Quế Võ Bắc Ninh có chị vợ là giáo viên ngoài Hà Nội, trong chiến đấu anh ấy là người đất thương lính, lính cũng rất yêu quý anh nhưng khi chiến đấu xong thì chúng được lệnh rút ra ngoài Bắc và đến bây giờ chúng tôi vẫn còn một cái ấn tượng là rất thương anh và thương đến người vợ Hà Nội từ Bắc mà bắt xe tải vào tận trong chiến trường thăm chồng, Người vợ của chiến sĩ ấy đã phải đi mất một tuần từ Bắc vào chiến trường để thăm chồng đúng hôm anh lên cơn sốt rét và vết thương tái phát phải chuyển anh đi viện 45, bệnh viện Quân khu 4. Chị ấy vào đấy, thì anh ấy đi trước một hôm không gặp được đơn vị cử chúng tôi đưa chị để đến thăm anh, khi chúng tôi đưa chị ấy lên thì một hoàn cảnh rất là buồn và bây giờ chúng tôi cũng rất ngậm ngùi vì khi đến anh mới lên cơn sốt rét ác tính và mất trước mấy tiếng, chị ấy không gặp được. Và chúng tôi làm công tác tư tưởng giấu là anh ấy chuyển viện và chuyển công tác đơn vị, chính vì vậy chị ấy vẫn đinh ninh là anh chuyển công tác và đơn vị, chúng tôi cử người đưa chị ấy về nhà, sau 1975 giải phóng đất nước thì chúng tôi có về, có hỏi những đồng đội và nói rằng chị về và chị biết rằng anh ấy mất nhưng mà vì nhiệm vụ là chị phải gạt nước mắt nên khi về chị cũng không nói với bố mẹ chồng, nói là đã gặp chồng chỉ nói rằng anh đã chuyển đơn vị.



