Cựu chiến binh - Thương binh Ngô Văn Soạn
Cựu chiến binh - Thương binh Ngô Văn Soạn

Cựu chiến binh Ngô Văn Soạn nhập ngũ năm 1966, là phi công duy nhất người dân tộc Nùng. Sau khi tốt nghiệp Trường Không quân Liên Xô (cũ), ông về nước lái máy bay Mig-21 chiến đấu trong đội hình trung đoàn không quân 921, sư đoàn không quân 371, Quân chủng PKKQ.
Sau ngày đất nước thống nhất 30/4/1975, thiếu uý Ngô Văn Soạn vào công tác tại trung đoàn không quân 935 (sư đoàn không quân 370) mới thành lập và thực hiện chuyển loại bay F5 chiến lợi phẩm, bảo vệ vùng trời phía Nam.
Ngày 4/2/1976, phi công Ngô Văn Soạn thực hiện bài bay khu vực giản đơn. Khi kết thúc bài bay, về lại sân bay quân sự Biên Hoà thì máy bay gặp sự cố, mất nguồn điện chính thức và dự phòng, đ,âm xuống đầu đường băng.
Máy bay gãy đôi. Phi công Ngô Văn Soạn bị cắt rời 2 chân, chấn thương sọ não. Sau gần 2 năm điều trị, phi công được cứu sống, mất 81% sức khoẻ, xếp hạng thương binh 1/4 và phục viên về quê Lạng Sơn, khi mới 30 tuổi.
Mỗi năm, khi những cơn mưa tháng Bảy bắt đầu nặng hạt và cả nước lại bồi hồi trong không khí của ngày tri ân, tôi lại tìm về căn nhà nhỏ của ông Ngô Văn Soạn – một người cựu chiến binh, một thương binh mà cuộc đời ông là một cuốn sử sống đầy bi tráng. Giữa nhịp sống hối hả của thế kỷ 21, câu chuyện của ông như một quãng lặng trầm hùng, nhắc nhở chúng ta về giá trị của hai chữ "hòa bình".
Ấn tượng đầu tiên về ông Soạn là hình ảnh một người lính già với mái tóc đã bạc phơ như cước, nhưng tác phong vẫn vô cùng nhanh nhẹn, cương trực. Trên khuôn mặt hằn sâu những nếp nhăn của thời gian, đôi mắt ông vẫn sáng quắc vẻ tinh anh – cái nhìn của một người đã từng đi qua mưa bom bão đạn mà không hề nao núng. Chiếc áo lính cũ bạc màu được ông giữ gìn cẩn thận, trên ngực trái lấp lánh những tấm huân chương, minh chứng cho một thời hoa lửa.
Ông Soạn kể cho tôi nghe về những năm tháng của thập niên 70, khi tiếng súng kháng chiến chống Mỹ đang ở giai đoạn khốc liệt nhất. Ngày ấy, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, chàng thanh niên Ngô Văn Soạn đã gác lại bút nghiên, từ biệt mẹ già và làng quê yên ả để lên đường nhập ngũ. "Lúc đó, trong lòng chỉ có một ý nghĩ duy nhất: Nước chưa lặng thì nhà chưa yên," ông bồi hồi nhớ lại. Ông đã cùng đồng đội hành quân qua những cánh rừng già Trường Sơn, nơi "cơm nắm muối vừng" và những cơn sốt rét rừng hành hạ, nhưng tiếng hát vẫn át tiếng bom.
Mốc thời gian không bao giờ quên trong cuộc đời ông là những trận đánh ác liệt tại chiến trường miền Nam. Trong một lần đánh chiếm điểm cao, một quả pháo của kẻ thù đã nổ vang trời ngay sát công sự. Ông ngã xuống, máu thấm đẫm màu áo xanh tình nguyện. Ông tỉnh dậy trong bệnh viện dã chiến với một phần thân thể đã gửi lại chiến trường, trở thành một thương binh. Nỗi đau thể xác lúc ấy chẳng thấm tháp gì so với nỗi đau khi hay tin những người đồng chí thân thiết nhất đã vĩnh viễn nằm lại dưới những hố bom.
Nhưng đúng như lời Bác Hồ dạy: "Thương binh nhưng không tàn", sau ngày đại thắng 30/4/1975, ông Soạn trở về quê hương với đôi chân không còn nguyên vẹn nhưng ý chí lại sắt đá hơn bao giờ hết. Ông không chọn sống dựa vào trợ cấp, mà hăng hái tham gia vào các hoạt động của hội Cựu chiến binh địa phương, giúp đỡ những gia đình liệt sĩ có hoàn cảnh khó khăn. Nhìn cách ông tỉ mẩn chăm sóc vườn tược, hay cách ông say sưa kể chuyện lịch sử cho lũ trẻ trong xóm, tôi thấy một sức sống mãnh liệt đang trào dâng. Ông không chỉ chiến đấu trong thời chiến, mà còn đang miệt mài "chiến đấu" với sự nghèo khó và sự lãng quên trong thời bình.
Cuộc đời của cựu chiến binh Ngô Văn Soạn như một bản anh hùng ca giữa đời thường. Ông là gạch nối giữa quá khứ vinh quang và hiện tại tươi sáng. Qua hình ảnh của ông, tôi hiểu rằng hòa bình hôm nay không phải là điều tự nhiên mà có, nó được đánh đổi bằng xương máu, bằng thanh xuân và cả những khiếm khuyết trên cơ thể của những người lính năm xưa.
Chia tay ông, tôi mang theo hình ảnh nụ cười hiền hậu của người thương binh già. Tôi tự hứa với lòng mình phải sống sao cho xứng đáng với những hy sinh cao cả ấy. Cảm ơn ông – người chiến sĩ Ngô Văn Soạn – người đã giữ lửa truyền thống để thế hệ trẻ chúng cháu mãi soi mình và bước tiếp.



