ĐÀ NẴNG 1975 – CÚ ĐÁNH SẤM SÉT MỞ TOANG CÁNH CỬA TOÀN THẮNG
Đà Nẵng 1975 – Cú đánh sấm sét mở toang cánh cửa toàn thắng
Thắng lợi vang dội ở Tây Nguyên, Trị – Thiên và Nam – Ngãi đầu Xuân 1975 đã khiến toàn bộ hệ thống phòng thủ của quân đội Sài Gòn ở miền Trung rung chuyển. Sau khi các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Ngãi và phần lớn Quảng Nam bị giải phóng, lực lượng còn lại của Quân khu 1 – Quân đoàn 1 ngụy quân buộc phải co cụm về Quảng Đà. Đà Nẵng – với ba sân bay, bốn hải cảng cùng hệ thống phòng thủ liên hợp hải – lục – không quân – trở thành điểm máy chốt cuối cùng trong kế hoạch “tử thủ” của địch, đồng thời là mắt xích then chốt trong thế co cụm chiến lược mà chính quyền Sài Gòn đặt kỳ vọng.
Tại đây, kẻ địch tập trung khoảng 75.000 quân: Sở chỉ huy Quân đoàn 1 – Quân khu 1, Sư đoàn bộ binh 3, tàn quân của Sư đoàn 1 và 2, Sư đoàn thủy quân lục chiến (kèm Lữ đoàn 147), Liên đoàn biệt động quân 17, các thiết đoàn tăng thiết giáp, 12 tiểu đoàn pháo binh cùng lực lượng lớn cảnh sát, bảo an, dân vệ, hải quân. Nhưng bên trong một hệ thống phòng ngự tưởng như kiên cố ấy là sự rối loạn chỉ huy, tinh thần suy sụp và sự chia cắt hoàn toàn về đường bộ với miền Nam.
Trước tình hình thời cơ chín muồi, ngày 25/3/1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở Chiến dịch giải phóng Đà Nẵng. Bộ Tư lệnh Chiến dịch gồm Tư lệnh Lê Trọng Tấn và Chính ủy Chu Huy Mân trực tiếp chỉ huy lực lượng của Quân đoàn 2 và Quân khu 5. Mệnh lệnh được xác định rõ: đánh nhanh – táo bạo – bất ngờ – chắc thắng, tận dụng triệt để thế địch đang hoang mang tháo chạy.
Lực lượng ta tham gia chiến dịch gồm Quân đoàn 2 (có Sư đoàn 325, Sư đoàn 304, Lữ đoàn xe tăng 203, Lữ đoàn pháo binh 164, các trung đoàn pháo phòng không và công binh) cùng lực lượng chủ lực Quân khu 5 (Sư đoàn 2, Lữ đoàn 52, các trung đoàn bộ binh, tăng thiết giáp, pháo binh, công binh, lực lượng đặc công – biệt động – du kích địa phương). Ta triển khai thế bao vây từ bốn hướng: bắc, tây bắc, tây nam, nam và đông nam.
Ngày 26/3, chiến dịch mở màn. Ở hướng bắc, Trung đoàn 18 (Sư đoàn 325) đánh chiếm các cứ điểm Phước Tượng, Thừa Lưu, Thổ Sơn; ngày 27–28/3, tiếp tục phá vỡ tuyến phòng thủ Phú Gia và làm chủ Lăng Cô – bàn đạp đánh lên đèo Hải Vân. Hướng tây bắc, Sư đoàn 304 hành quân thần tốc theo đường 14, áp sát Tiên Sa – Đá Đen. Hướng nam, các lực lượng Quân khu 5 phá tan cụm quân ở Bà Rén, chiếm Duy Xuyên, Nam Phước, rồi áp sát cửa ngõ Vĩnh Điện. Hướng tây nam, Sư đoàn 304 rút khỏi Thượng Đức, phát triển lực lượng vào gần ngoại vi Đà Nẵng.
Cùng lúc, pháo binh của ta đồng loạt khống chế các sân bay Đà Nẵng, Nước Mặn, bán đảo Sơn Trà; pháo 130 mm từ nhiều vị trí dội vào trận địa địch khiến tinh thần chúng thêm hỗn loạn. Ngay từ ngày 26/3, Mỹ buộc phải tổ chức cầu không vận di tản khỏi Đà Nẵng – một dấu hiệu rõ rệt cho sự tan rã của lực lượng địch.
Đến ngày 28/3, ta đã chiếm xong toàn bộ tuyến vòng ngoài. Nhân dân ngoại thành nổi dậy bắt hơn 2.000 lính địch đang tháo chạy, tạo thế phối hợp chặt chẽ với chủ lực.
Rạng sáng 29/3, ta sử dụng 30 khẩu pháo lớn của Quân đoàn 2 và Quân khu 5 trút bão lửa xuống sở chỉ huy Quân đoàn 1, sân bay Đà Nẵng, Nước Mặn, quân cảng Sơn Trà, cắt hoàn toàn đường biển – đường không rút chạy của địch. Cùng lúc, các mũi thọc sâu đồng loạt xuất kích.
Hướng bắc: Sư đoàn 325 vượt đèo Hải Vân, chiếm kho xăng Liên Chiểu lúc 11 giờ, tiến vào trung tâm thành phố và đánh chiếm bán đảo Sơn Trà lúc 13 giờ 30.
Hướng tây bắc: Trung đoàn 9 (Sư đoàn 304) đánh chiếm Phước Tường, tòa thị chính, rồi phát triển ra Sơn Trà.
Hướng tây nam: Sư đoàn 304 đập tan cứ điểm Đồng Lâm, Ái Nghĩa, chiếm căn cứ Hòa Cầm lúc 12 giờ 30 và hội quân tại sân bay Đà Nẵng.
Hướng nam – đông nam: Sư đoàn 2 vượt sông Bà Rén, Vĩnh Điện từ đêm 28/3; đến trưa 29/3 chiếm sở chỉ huy Quân khu 1 – Quân đoàn 1, sân bay Đà Nẵng và phối hợp đánh vào Non Nước, Nước Mặn.
Lực lượng biệt động và nhân dân Đà Nẵng nổi dậy chiếm cầu Trịnh Minh Thế, cắm cờ lên nóc tòa thị chính, phối hợp hoàn tất quá trình tiêu diệt và làm tan rã quân ngụy. Đến 15 giờ ngày 29/3/1975, ta giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng và toàn tỉnh Quảng Đà.
Kết quả, ta loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 90.000 quân địch, thu và phá hủy 115 máy bay, 138 xe tăng – thiết giáp, 47 tàu xuồng, hơn 200 khẩu pháo và kho vũ khí lớn. Chiến dịch Đà Nẵng đánh sập hoàn toàn tuyến phòng thủ chiến lược của quân đội Sài Gòn, làm thay đổi hẳn tương quan lực lượng trong chiến tranh, tạo bước nhảy vọt về thế và lực có lợi cho ta.
Thất thủ Đà Nẵng khiến chế độ Sài Gòn rơi vào khủng hoảng không thể cứu vãn; các hãng tin quốc tế thời điểm ấy nhận định rằng sự sụp đổ của họ chỉ còn được tính “bằng ngày và giờ”. Với thắng lợi này, ta hình thành hậu phương chiến lược rộng lớn nối liền từ miền Bắc xuống tận các tỉnh ven biển Trung Bộ, tạo điều kiện thuận lợi để dồn sức cho trận quyết chiến cuối cùng: giải phóng Sài Gòn – Gia Định, hoàn thành cuộc Tổng tiến công Xuân 1975 và thống nhất đất nước.



