ĐÃ TÌM ĐƯỢC MỘ ANH
Đoạn hồi ức kể về hành trình giúp gia đình liệt sĩ Hồ Huy Liễu (quê xã Sơn Hàm, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh) tìm lại phần mộ sau gần 40 năm chỉ biết tin “hy sinh tại mặt trận phía Nam”. Liễu hy sinh mùa khô năm 1967 tại thung lũng An Lão (Bình Định) trong trận địch đổ quân xuống cao điểm Hòn Chè. Anh chiến đấu trước cửa hang đá và ngã xuống, đồng đội mai táng tại khu vực giữa Xóm Mít – Xóm Tranh (nay thuộc xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân). Năm 2006, cháu ruột của Liễu vào Thành phố Hồ Chí Minh tìm tác g
Cách nay hơn một năm, một người cùng quê vào Sài Gòn gặp tôi. Qua lời tự giới thiệu, tôi biết đây là người thân của Hồ Huy Liễu, xã Sơn Hàm, là người bạn thân, cùng nhập ngũ một ngày, cùng một đại đội với tôi. Anh đã hy sinh trong mùa khô năm 1967 tại thung lũng An Lão, tỉnh Bình Định.
Đã trên 30 năm nay, gia đình anh chưa biết anh hy sinh ở đâu, trong trường hợp nào và hiện giờ được an táng ở đâu. Theo sự mách bảo, gia đình cử người vào tìm tôi, tại thành phố Hồ Chí Minh.
Nhìn vóc dáng người thanh niên, hao hao có những nét giống Hồ Huy Liễu, “con cha, cháu ông, không giống lông cũng giống cánh”, tôi thầm nghĩ.
- Cháu là cháu ruột của chú Liễu! - Người thanh niên chủ động tự giới thiệu trước. Ở ngoài quê cháu được biết, bác là người cùng đơn vị với chú Liễu trong những năm 60. Người ta nói với gia đình cháu là một trận đánh Mỹ, chú Liễu hy sinh, bác là người trực tiếp chôn cất?
Tôi không hỏi cậu thanh niên ai mách đường cho cậu về tôi. Vì nhiều trường hợp tìm đến tôi đều có lý do, mục đích chính đáng. Không có những thông tin thì sao họ lại tìm đến tôi làm gì. Thấy cậu thanh niên trong có vẻ sốt ruột, muốn biết sự thật về chú mình, tôi rót nước mời cậu:
- Cháu cứ uống nước đi, rồi bác sẽ kể chuyện về chú Liễu cho cháu nghe!
Đã gần 40 năm nay, cái ngày định mệnh ấy đối với Hồ Huy Liễu vẫn còn đọng lại trong tôi.
…”Một buổi sáng mùa khô năm 1967, sau những đợt ném bom, bắn phá dữ dội lên cao điểm Hòn Chè, phía Tây thung lũng An Lão, hàng đàn máy bay trực thăng từ hướng thị trấn Bồng Sơn, thuộc huyện Hoài Nhơn, Bình Định bay đến đổ quân xuống Hòn Chè. Lúc này Đại đội 2 chúng tôi đã sơ tán lên sườn đồi, dựa vào các hang đá để tránh pháo và sẵn sàng chiến đấu. Mấy chiếc HU1A quần đảo nhiều vòng rồi hạ độ cao. Cây cối trên các hang đá ngã nghiêng, tơi tả. Chiếc HU1A như dừng hẳn, cánh quạt vẫn quay tít. Tôi ngồi dưới hang đá nhìn lên, thấy rõ thằng Mỹ, mặt đỏ như gà chọi, tay lăm lăm khẩu đại liên, ngón tay để trong vòng cò như sẵn sàng nhả đạn.
“Lộ rồi!” – tôi nghĩ thầm. Bỗng từng tràng súng liên thanh và lựu đạn từ trên máy bay tung xuống. Khói lửa mù mịt, khét lẹt.
Tất cả Đại đội 2, dựa vào hang đá, sẵn sàng chiến đấu.
Một toán linh Mỹ từ trên Hòn Chè tiến xuống, sục sạo khu vực hang đá. Tiểu đội trinh sát được phân công cảnh giới trước các cửa hang. Mỗi người một hướng.
Trời càng về trưa, càng nóng như đổ lửa. Máy bay trực thăng, máy bay phản lực, hết tốp này đến tốp khác thay nhau trút bom, phóng rốc két, ném lựu đạn xuống hang đá. Chúng như bầy quạ đen đang giành ăn. Mùi thuốc súng, mùi bom xăng tràn vào các cửa hang, ngộp thở. Bỗng trước cửa hang đá trên hướng Tây (hướng Hòn Chè) tiếng súng rộ lên từng tràng nghe như có cả tiếng súng AK của bộ đội ta.
Tiếng máy bay phản lực cùng với tiếng bom, pháo ầm ầm mãi cho đến chiều. Khoảng 16 giờ, địch cho trực thăng đáp xuống một đồi Sim gần khu vực hang đá, bốc quân đi.
Tất cả chúng tôi mặt mũi lấm lem, bơ phờ, mệt mỏi. Cảnh vật nơi đây như vừa trải qua trận bão khủng khiếp. Những cây gỗ to, đường kính 2 – 3 tấc, bị đạn pháo tiện đứt, đổ ngổn ngang. Xung quanh bốn bề yên tĩnh lạ. Mọi người túa ra các hướng kiểm tra lại quân số. Tất cả bàng hoàng khi phát hiện Hồ Huy Liễu - một chiến sỹ trinh sát – hy sinh ngay trước cửa hang, xung quanh vương vãi vỏ đạn AK, song, súng không còn, địch đã lấy đi mất. Rất có thể Liễu đã chiến đấu với toán lĩnh Mỹ từ trên Hòn Chè xuống sục sạo, sau những loạt AK, anh đã hy sinh. Cả Đại đội 2 chúng tôi vô cùng thương tiếc…”.
Cậu thanh niên ngồi nghe như nuốt từng lời. Tôi biết chắc, cậu không thể hình dung được nét mặt của người chú, vì lúc Liễu đi bộ đội, cậu vẫn chưa có “trứng”. Tuy nhiên, nghe tôi kể về Liễu, một giọt nước mắt đã lăn dài trên má của cậu; cặp mắt đỏ hoe, nhìn vào khoảng hư vô; hai tay cậu nắm chặt như hình ảnh “Trần Quốc Toản bóp nát quả cam…”.
- Bác hãy giúp cháu, chỉ cho cháu biết nơi chôn cất chú Liễu? Ở ngoài quê, gia đình cũng đã nhận được giấy báo tử rồi. Mấy chục năm nay, chúng cháu không biết được mộ chú Liễu được chôn ở mô. Vì trong giấy báo tử ghi nơi hy sinh là: “MẶT TRẬN PHÍA NAM”.
- Lại “MẶT TRẬN PHÍA NAM” – Tôi nói thầm như không để cho cậu thanh niên nghe thấy.
- Từ khi chú Liễu hy sinh, đến nay đã gần 40 năm, bác chưa một lần về lại nơi ấy. Nhưng bác vẫn còn nhớ như in từ gốc cây, ụ mối, và những lối mòn dẫn đến nơi mai táng Hồ Huy Liễu. Bác sẽ hướng dẫn cho cháu đi đến nơi!
Tôi lấy giấy bút ra vẽ sơ đồ từ thị trấn Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đến nơi mai táng Hồ Huy Liễu, ở giữa Xóm Mít và Xóm Tranh, thuộc thôn Vạn Trung, xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân. Khu vực này trước đây thuộc huyện An Lão, mới tách về huyện Hoài Ân.
Sau khi hướng dẫn cho cậu thanh niên đi theo bản đồ này, tôi dặn thêm:
- Cháu cứ đi trước xem sao. Nếu không có kết quả, phôn vào cho bác, bác sẽ trực tiếp dẫn cháu đến nơi!..
Một thời gian sau, tôi nhận được điện và thư trả lời của gia đình liệt sỹ Hồ Huy Liễu là đã tìm được mộ anh.
Nói sao cho hết nỗi vui mừng của chúng tôi. Nhất là gia đình và người thân của liệt sỹ.
Người cháu của Hồ Huy Liễu, tên là Cường, cho tôi biết:
- Cháu cầm cái sơ đồ bác vẽ hôm trước, nhờ máy tay xe ôm đưa đi tìm. Họ nói rằng: bác mày làm gì mà đã gần 40 năm rồi vẫn nhớ rõ từng gốc mít, từng địa danh ở cái huyện miền núi xa xôi này! Cháu lại càng yên tâm vì nghĩ rằng tay xe ôm này cũng biết. Và cháu đã tìm được mộ chú Liễu, đã đưa vào nghĩa trang Ân Hảo, nằm cạnh mộ của ông chính trị viên tên Tương! (đồng chí Tương quê ở miền Nam, là chính trị viên Đại đội 1, cùng hy sinh năm 1967.)
Không để cho tôi nói một câu nào, Cường nói tiếp:
- Khi nào về quê, bác cố gắng đến nhà cháu chơi, ai cũng muốn được gặp bác!
- Xin chúc mừng các cháu và gia đình. Nhất định sẽ có dịp bác về thăm gia đình cháu!
Ngày 12/11/2006, trường phổ thông trung học huyện Hương Sơn – Hà Tĩnh mời tôi về dự lễ kỷ niệm lần thứ 45, ngày thành lập trường (1961 – 2006). Tôi là cựu học sinh khoá đầu tiên của trường (1961 – 1965).
Chương trình trong chuyến đi này của tôi xếp kín cả một tháng. Ngoài thời gian dự “ngày hội trường”, tôi dành tất cả cho việc tìm đồng đội
- Những người đã hy sinh và cả những người đang sống, đã mấy chục năm chưa gặp lại họ. Trong số đó, tất cả là đồng đội của tôi, tôi còn nhớ.
Ngày 13/11/2006, tôi về xã Sơn Hàm, tìm đường vào gia đình Hồ Huy Liễu. Đây là lần đầu tiên tôi đến xã Sơn Hàm, một xã miền Núi. Lúc nhỏ, ở quê, bận đi học; lớn lên tôi đi bộ đội. Qua hai cuộc chiến tranh liên tục, từ năm 1982 đến nay, tôi định cư tại thành phố Hồ Chí Minh. Cứ mỗi lần về thăm quê, vì lý do này hay lý do khác, tôi không thể đi hết được các xã trong huyện. Từ thị trấn Phố Châu, theo con đường 71, tôi đi một lúc, khi đã đến xã Sơn Trường mới biết mình đã qua khỏi xã Sơn Hàm mười mấy cây số. Được người dân ở đây mách bảo, theo con đường ngoằn ngoèo, có chỗ đã được trải nhựa, nhưng phần nhiều là đường đất, đường cấp phối, khi đến được Uỷ ban Nhân dân xã cũng là lúc hết giờ làm việc. Được nhân viên trực ở đây dẫn đường, tôi đã đến được gia đình người thân Hồ Huy Liễu.
Tiếp tôi tại nhà, có đông đủ các anh chị của Hồ Huy Liễu. Ông, bà cụ thân sinh của anh đã qua đời. Trên bàn thờ, ngoài chân dung các cụ, chân dung Hồ Huy Liễu được khắc trên đá hoa cương, ẩn sau những bát nhang đang nghi ngút khói.
Liễu đấy ư? Đã gần nửa thế kỷ tôi mới được gặp lại anh, người bạn chiến đấu thân thiết, đã một thời cùng đồng đội “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, nay đã yêu nghỉ trên mảnh đất đã nhuốm máu anh và đồng đội. Tôi thắp cho anh một nén nhang.
Cậu thanh niên tên Cường, cháu của Hồ Huy Liễu vẫn còn cất giữ tấm sơ đồ hôm vào Sài Gòn, tôi vẽ để hướng dẫn đi tìm mộ. Hôm nay Cường cũng lấy ra cho tôi xem, kèm theo cả giấy báo tử liệt sỹ Hồ Huy Liễu. Song, tôi không quan tâm, chỉ biết rằng, gia đình đã tìm được nơi yên nghỉ của Hồ Huy Liễu là tôi đã toại nguyện rồi.
Cường không để thời gian im lặng, nói tiếp:
- Hàng năm cháu và các bác, các chú ở đây có vào thắp nhang cho chú Liễu. Năm nào không vào được cháu gửi tiền vào nhờ bộ phận quản trang lo giùm. Cháu đã thoả thuận với họ.
Ngoài sân, bóng nắng đã ngả về chiều. Tuy nhiên, trước tấm lòng mến khách và nhiệt tình của mọi người, tôi không nỡ từ chối một ly rượu ấm nồng, nghĩa tình sâu nặng của thân nhân người đã khuất…


