Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Đặc Công Việt Nam: Tinh Hoa Quân Sự Và Lời Dạy Của Vị Cha Già

Đoạn trích là một thước phim lịch sử quý giá, kết nối tinh hoa quân sự độc đáo của dân tộc từ thời Yết Kiêu, Trần Nguyên Hãn đến sự ra đời hiện đại của Binh chủng Đặc công. Nội dung nhấn mạnh tầm nhìn thiên tài của Bác Hồ về lối đánh "quý hồ tinh bất quý hồ đa" và dấu mốc lịch sử ngày 19/5/1948 – khi cái tên "Đặc công" chính thức ra đời. Tâm điểm xúc động của đoạn kể là hồi ức của trung tá Nguyễn Văn Đôi về cuộc gặp gỡ bất ngờ với Bác tại chiến khu Việt Bắc năm 1953. Qua những lời căn dặn ân cầ

Lai Châu25/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thời gian có thể làm mờ phai sự kiện, nhưng chính nhờ có độ lùi của thời gian mà sự kiện lịch sử được sống lại, giúp ta nhận thức về nó một cách đầy đủ, hoàn thiện và bản chất hơn.

Cứ mỗi lần kỷ niệm ngày sinh của Đảng quang vinh, của Bác Hồ vĩ đại, ta lại có thêm hiểu biết mới về sự kiện này, tình yêu Đảng, lòng thành kính và sự ngưỡng mộ vị lãnh tụ anh minh của dân tộc, cả lòng tự hào nữa trong mỗi người lại được củng cố, vươn tới.

Cứ mỗi lần kỷ niệm ngày truyền thống binh chủng là mỗi lần cán bộ, chiến sĩ chúng tôi hiểu thêm những nét hào hùng và cả những bước đi đầy chông gai trên con đường tới đích chiến thắng, khiến tình cảm gắn bó với binh chủng và tình đồng đội như có thêm chất keo mới khó rời, tạo nên một phấn khởi, tự hào mới, sâu hơn, thấm đậm hơn trong tâm khảm của mình.

Thời điểm khởi nguyên của binh chủng được bắt đầu từ những trận chiến đấu của bộ binh, của dân quân du kích theo một cung cách ngổ ngộ, không có bài bản sẵn mà chỉ nảy sinh từ thực tiễn chiến đấu ngay từ những ngày đầu chống thực dân Pháp xâm lược, rồi phát triển mạnh mẽ, lan nhanh, từ Đông Nam Bộ nhân ra Cực Nam Trung Bộ, Khu V để hòa chung với các trận đánh cùng một cung cách như thê ở chiến trường Bắc Bộ, đã thực sự góp phần làm phát triển phong phú các hình thức tác chiến của chiến tranh nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Vẫn biết lối đánh đặc công là kế thừa truyền thống quân sự độc đáo của dân tộc. Lấy ít địch nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, nhưng chỉ có đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn và sáng tạo của Đảng, lối đánh đó mới có điều kiện phát triển rộng lớn, nâng lên thành một nghệ thuật trong nền khoa học nghệ thuật quân sự của dân tộc ta, do đó lực lượng đặc cổng mới có bước phát triển nhảy vọt về tổ chức, đạt tới sự chững chạc và bề thế hôm nay.

Dũng sĩ Yết Kiêu (thời Trần) đã bí mật lọt vào căn cứ thủy quân địch, lặn xuống nước đục thuyền, làm đắm nhiều thuyền chiến, tiêu diệt nhiều sinh lực quân xâm lược Mông - Nguyên, có lần tự tay ông đã bắt sống tướng giặc. Tướng quân Trần Nguyên Hãn chỉ huy hai trăm binh sĩ dưới quyền, bí mật hành quân ban đêm, đến sát chân thành Tam Giang (Việt Trì ngày nay), chọn chỗ thành cao nhất, nơi địch không chú ý đề phòng, cởi trần bắc thang lọt vô nội thành, tỏa về lán trại nơi quân giặc đang ngủ say mà tiêu diệt chúng; bản thân Trần Nguyên Hãn đích thân dẫn một cánh quân đánh thẳng vào mục tiêu chủ yếu - nơi ở của tướng giặc, khiến quân địch không kịp trở tay... Thật là chói lọi một đỉnh cao của sự kết hợp hài hòa giữa cách đánh đầy sáng tạo với tinh thần dũng cảm tuyệt vời, vô song, tất cả vì sự tồn vong của đất nước, của dân tộc. Nhưng do hạn chế của lịch sử lúc đó, các chiến tích đặc biệt ấy không được phát triển, nhân rộng, mặc dầu thực tiễn lúc bấy giờ vẫn rất cần có những trận chiến đấu theo cách làm ăn đặc biệt này.

Sự ra đời của binh chủng đặc công là do yêu cầu của thực tiễn chiến đấu đáp ứng sự phát triển của nhiệm vụ cách mạng nhưng cũng có nét riêng đặc biệt.

Đêm 18 rạng 19 tháng 5 năm 1948, du kích Tân Uyên thực hiện trận đánh đặc công vào khu vực phòng thủ của địch ở cầu Bà Kiên, lấy thành tích mừng sinh nhật Bác. Và cũng chính cái ngày lịch sử ấy - 19 tháng 5 năm 1948, đơn vị đầu tiên được anh em gọi cái tên là Đặc công.

Nếu sự manh nha trên đây được thôi thúc bởi lòng ngưỡng mộ một vị Cha già dân tộc, thì sự ra đời và trong bước đi tới của binh chủng là không thể tách rời sự chỉ đạo tiên đoán của Bác trong tác phẩm “Cách đánh du kích” viết năm 1941. Ngày ấy trong tác phẩm quân sự này, Người khái quát “Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc” và khẳng định sự cần thiết phải có một đội quân đánh theo cung cách “thiên biến vạn hóa, xuất quỷ nhập thần”. Như vậy là từ sớm, Bác kính yêu của chúng ta đã rất quan tâm đến việc hình thành một phương thức tiến công “quý hồ tinh bất quý hồ đa” (quân ít mà tinh còn hơn là đông mà chất lượng không cao), xem đó như một trong những cách đánh đặc biệt không thể thiếu của một đất nước nhỏ, nghèo nhưng giàu lòng yêu nước và truyền thống bất khuất đối mặt với kẻ thù xâm lược có ưu thế về tiềm lực kinh tế và quốc phòng.

Tư tưởng quân sự của Bác Hồ đã soi đường vào tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển của lực lượng vũ trang cách mạng, của quân đội nhân dân Việt Nam trong đó có lực lượng đặc công chúng tôi.

Từ rất sớm, Bác đã nhìn rõ tiền đồ của quân đội ta rất rực rở, vẻ vang. Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Bác nói: “Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chúng có những đội đàn em khác.

Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam chúng ta”.

Bác còn dành không ít trí tuệ và tình cảm của mình cho những trận chiến đấu tuy lực lượng ít nhưng biết kết hợp khéo léo giữa dũng và mưu mà đạt hiệu quả cao. Danh hiệu “đặc công” được Bác nói đến từ mùa thu năm 1953 tại căn cứ địa Việt Bắc. Người được vinh dự đón nhận danh hiệu này là đồng chí Nguyễn Văn Đôi và Trần Thắng Nê - hai chiến sĩ đặc công của Đông Nam Bộ Nê đã hy sinh tại mặt trận Mỏ Vẹt (Tây Ninh) hồi năm 1970 nhưng Nguyễn Văn Đôi còn. Nhờ đó mà tâm khảm chúng tôi có được một ký ức tuy gián tiếp nhưng khó quên tình cảm vị Cha già dân tộc đã vun đắp cho sự kết trái sau này của binh chủng ngay khi hạt giống mới nhú mầm.

Năm tháng trôi qua, đă trên một phần tư thế kỷ, vậy mà khi kể về sự kiện này trong buổi hội thảo về lịch sử và truyền thống của binh chủng, trung tá Nguyễn Văn Đôi vẫn còn mới nguyên những xúc động về cái giây phút mà anh không nghĩ tới nhưng đã là sự thật, trở thành một kỷ niệm sâu sắc nhất của Đôi, làm thức tỉnh nhận thức, soi sáng hành động cho anh vượt qua bao trở ngại chông gai cùng đồng đội chiến đấu...

Nguyễn Văn Đôi kể:

"... Tháng 6 năm 1953, sau khi hoàn thành nhiệm vụ phổ biến kinh nghiệm chiến đấu đặc công ở chiến trường Đông Nam Bộ, tôi và Trần Thắng Nê được lệnh của đồng chí Tham mưu trưởng Liên khu V sẽ đi cùng đoàn chiến sĩ thi đua của Liên khu ra Việt Bắc họp liên hoan mừng công. Đầu tháng 8, chúng tôi đến Việt Bắc, nằm ở trạm tiếp đón của Bộ Tổng tư lệnh đặt ở Quán Vuông (Đại Từ). Mới có bốn ngày nằm chờ mà chúng tôi thấy bồn chồn, đứng ngồi không yên, mặc dầu sống ở đây rất thoải mái, khỏi lo địch càn, địch vây. Sang ngày thứ năm thì anh Toàn, tỉnh đội Khánh Hòa làm trưởng đoàn thông báo: Hôm nay có cấp trên ra thăm, tất cả chúng ta phải chuẩn bị, sắp xếp nơi ăn, ngủ gọn gàng, sạch sẽ, vệ sinh.

Nói xong anh phân vị trí của từng người để đón cấp trên, để ai cũng được nhìn, được nghe cấp trên nói chuyện. Với tôi và Nê, anh bảo:

- Hai anh giáo viên đặc công ngồi ở sát cửa mà cấp trên sẽ vào.

Từ đấy chúng tôi càng hồi hộp chờ đợi.

Bác đi ngựa đến. Nhưng vào đến nơi, chỉ khi Bác bỏ chiếc khăn trùm mặt ra, chúng tôi mới ngỡ ngàng sung sướng reo to:

Bác Hồ! Tất cả chúng tôi đều đứng dậy kéo đến vây quanh Bác, hô vang:

- Bác Hồ muôn năm!

- Bác Hồ muôn năm!

Bác tươi cười vẫy tay chào đón mọi người. Chúng tôi hướng về Bác vỗ tay hoan hô vang cả khu lán nhưng vẫn trong trật tự và nghiêm túc.

Bác lần lượt đi đến từng người, vừa chúc sức khỏe, vừa có ý để tất cả chúng tôi ai cũng nhìn thấy Người. Tình đầm ấm cha con lan tỏa trong căn lán, hết những ngăn cách phút ban đầu. Chúng tôi xích gần bên Bác để được ngắm nhìn kỹ ánh mắt, chòm râu của Bác; từ đôi dép cao su Bác đi, đến bộ quần áo Bác mặc, cái khăn mặt Bác vắt vai, cái mũ cứng Bác đội, tất cả như rất lạ mà giản dị, quen thuộc. Câu đầu tiên Bác hỏi

- Hai chú chiến sĩ đặc công ở Khu V đâu?

Anh Toàn trưởng đoàn lễ phép báo cáo:

- Dạ, thưa Bác! - Vừa nói anh vừa giơ tay chỉ ra phía cửa báo cáo tiếp - Hai chiến sĩ đặc công đang ngồi ở hàng đầu.

Bác tươi cười vẫy tay:

- Hai chú lại gần đây, đến gần chỗ Bác.

Anh Toàn lại tiếp:

- Dạ thưa Bác, hai đồng chí đều quê ở Nam Bộ.

Tôi và Nê vừa cảm động vui sướng, vừa rụt rè bước đến gần bên Bác.

Bắc bắt tay từng người rồi giang rộng hai tay ôm hai chứng tôi như người cha ôm hai con đi xa lâu ngày mới về.

Bác âu yếm nhìn chúng tôi, lật mũ nồi đen chúng tôi đang đội, cười vui vẻ:

- Tốt! Đầu để tóc ngắn thê này mới đúng là bộ đội. Khỏe mạnh, gọn gàng là những yêu cầu cần thiết của chiến đấu.

Tôi vừa xúc động vừa phấn khởi thưa lại với Bác:

- Dạ thưa Bác, các chiến sĩ đặc công đều phải cắt tóc ngắn ạ.

- Vì sao? - Bác hỏi lại.

- Dạ thưa Bác để ngụy trang tránh được sự phát hiện của địch trong lúc tiềm nhập luồn vào đồn giặc.

- Tốt! - Bác nói tiếp - Các chú cần phổ biến kinh nghiệm này cho các chiến sĩ đặc công khác cùng làm.

Tôi và Nê đứng bên Bác nhưng tim vẫn đập nhanh vì chưa hết xúc động. Cả căn lán cũng vậy, ai cũng có chung tâm trạng như tôi. Không khí đón Bác cứ râm ran, đầm ấm.

Bác nhìn kỹ hai chúng tôi rồi căn dặn tiếp: Các chú đã hoàn thành nhiệm vụ phổ biến kinh nghiệm ở Khu V, ra đây các chú cần tiếp tực làm tốt việc đó. Cụ thể thế nào sẽ do Bộ Tổng Tham mưu hướng dẫn. Làm xong nhiệm vụ lại phải tiếp tục học tập nâng cao trình độ.

Sau đó Bác nói chuyện với Đoàn chiến sĩ thi đua Liên khu V...

Ba mươi phút trôi đi sao mà nhanh thế. Chúng tôi muốn thời gian chậm lại để được gần Bác lâu hơn nữa, được nghe Bác ân cần chỉ bảo, được nhìn kỹ Bác hơn.

Bác nhìn chứng tôi lần cuối sao mà trìu mến và âu yếm thế, khiến chúng tôi càng xúc dộng không nói lên lời.

Bác dặn trước khi tạm biệt:

- Mỗi cháu phải viết thư cho Bác nhé!

Thực hiện chỉ thị của Bác, ngày hôm sau các anh ở Cục tác chiến cho người ra đón chúng tôi vào cơ quan làm việc.

Mọi vấn đề đã được ấn định, chúng tôi đến nơi là các anh trong Cục tác chiến giao nhiệm vụ ngay. Chiều hôm đó chúng tôi hành quân luôn, đi thẳng xuống Phòng tham mưu Quân khu Việt Bắc lúc đó đóng ở xã Dân Chủ, huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên. Anh Thế Hùng, trưởng phòng tham mưu quân khu như đã được báo trước, khi chúng tôi đến, anh vào việc luôn.

Tháng 12 năm 1953, tôi và Nê được giao nhiệm vụ về vùng Việt Yên (Bắc Giang) vừa phổ biến kinh nghiệm đánh đặc công của Đông Nam Bộ vừa cùng các lực lượng vũ trang ở đây tổ chức đánh thử nghiệm tháp canh Như Thiết và Mỹ Độ theo cách đánh đặc công. Sau khi đánh sập tháp canh Như Thiết, tôi và Nê được Quân khu gọi về để tập trung lên Bộ tham gia chiến đấu ở Điện Biên Phủ.

Cuối tháng 1 năm 1954, chúng tôi tới mặt trận Điện Biên Phủ, được phân về Hồng Cúm. Tại đây chúng tôi được anh Nam Long và anh Lê Chưởng chỉ huy sư đoàn 361 giao nhiệm vụ cụ thể là huấn luyện gấp cho một số anh em đã có thành tích chiến đấu thuộc các đơn vị của sư đoàn về kỹ thuật tiềm nhập - luồn sâu, phục vụ cho nhiệm vụ đánh các chốt phòng ngự của địch. Tôi và Nê chia nhau huấn luyện cho 16 anh em, cả thẩy là bảy ngày. Sau đó anh Nam Long giao nhiệm vụ cho tôi và Nê chỉ huy số anh em này đánh vào trận địa phòng ngự của địch đối diện với ta. Do áp dụng tốt kỹ thuật tiềm nhập kiểu đặc công, chúng tôi đã đột nhập vào được hai mục tiêu chủ yếu là sở chỉ huy và trận địa xe tăng của địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại, trận địa phòng ngự phía tây của tập đoàn cứ điểm của địch bị uy hiếp...”

Chúng tôi đã làm theo lời Bác, thực hiện sự quan tâm của Bác với nhiệm vụ xây dựng, phát triển và chiến đấu của đặc công ngay từ những ngày còn kháng chiến gian khổ quyết liệt đó.

Cảm động biết bao khi được biết Bác trăm công nghìn việc mà vẫn theo dõi bước đi ban đầu của binh chủng, giáo dục và động viên chúng tôi trong những công việc rất cụ thể.

14 năm sau đó Bác và Đảng đã chính thức quyết định xây dựng lực lượng đặc công thành một binh chủng của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Độ lùi của thời gian càng xa, chúng tôi lại có thêm hiểu biết mới về tư tưởng chỉ đạo, về sự quan tâm của Bác - “Đặc công là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải cố gắng đặc biệt” - mà Bác đã dành cho binh chủng; nghĩa vụ và trách nhiệm lại có thêm nội dung mới, nặng nề hơn, nhưng cũng tràn đầy phấn khởi và tự tin hơn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn