Đại Đức Thích Nguyên Hương - 23 Năm Một Đời Người, Nhưng Để Lại Dấu Ấn Bất Tử Trong Lịch Sử Phật Giáo.
Có những con người chỉ sống vỏn vẹn hơn hai mươi năm nhưng sự hy sinh của họ lại trở thành biểu tượng bất diệt trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Vị tu sĩ trẻ ấy đã chọn ngọn lử@ để bảo vệ niềm tin tôn giáo, để thức tỉnh lương tri nhân loại và để lại dấu ấn sâu đậm trong phong trào đấu tranh bất b.ạ.o đ.ộ.n.g năm 1963. Đó là Đại đức Thích Nguyên Hương, pháp hiệu Đức Phong, một trong những vị Thánh tử đạo của Phật giáo Việt Nam.
Ngài có thế danh là Huỳnh Văn Lễ, sinh năm 1940 (Canh Thìn) tại làng Long Tĩnh, xã Liên Hương, quận Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận (nay thuộc huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận). Thân phụ là ông Huỳnh Thân, thân mẫu là bà Trương Thị Sang. Ngài là người con duy nhất trong gia đình. Tuy hoàn cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, cha mẹ Ngài đều là những Phật tử thuần thành, sống hiền lành, chất phác và luôn giữ gìn nếp sống đạo đức.Tuổi thơ của Ngài gắn liền với ngôi chùa Linh Bửu nằm ngay trong làng. Tiếng chuông chùa, lời kinh và hình ảnh chư Tăng đã nuôi dưỡng tâm hồn cậu bé Huỳnh Văn Lễ từ những ngày đầu đời. Nhận thấy con mình có căn duyên với cửa Phật, năm 1946, khi mới tròn sáu tuổi, cha mẹ đã phát nguyện cho Ngài xuất gia tại chùa Linh Bửu, theo Hòa thượng Quang Chí làm đệ tử. Chính vị Bổn sư đã ban cho Ngài pháp danh Nguyên Hương, gửi gắm mong muốn người học đạo sẽ lan tỏa hương thơm của giới đức và trí tuệ.Suốt những năm tháng tuổi thơ, Ngài chuyên tâm học kinh, học luật, phụng sự Tam bảo và chăm chỉ rèn luyện đạo hạnh. Năm 1952, Ngài thọ Ngũ giới. Nhận thấy người đệ tử có chí cầu đạo và phẩm hạnh tốt, Hòa thượng Quang Chí tạo điều kiện cho Ngài theo hầu chư Tăng trong các mùa An cư kiết hạ tại chùa Linh Quang ở Huế – trụ sở Giáo hội Tăng Già Trung phần lúc bấy giờ. Những năm sau đó, mỗi mùa hạ Ngài đều được tham học với nhiều bậc cao tăng, mở rộng kiến thức Phật học đồng thời hoàn thành chương trình thế học.Năm 1958, khi tròn mười tám tuổi, Ngài được cầu thọ Sa-di giới tại giới đàn chùa Bửu Tích, Phan Rí Thành. Hai năm sau, năm 1960, Ngài chính thức thọ Cụ túc giới, trở thành một vị Tỳ-kheo khi vừa tròn hai mươi tuổi. Cũng từ đây, Ngài được ban pháp hiệu Đức Phong, mang ý nghĩa người giữ gìn đạo hạnh vững vàng như ngọn gió lành đem lại sự an lạc cho chúng sinh.Sau khi thọ đại giới, Ngài tiếp tục vân du học đạo nhiều nơi, đặc biệt có thời gian đến Sài Gòn. Chính tại đây, Ngài tận mắt chứng kiến bầu không khí c.ă.n.g t.h.ẳ.n.g khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm thực hiện nhiều chính sách bị cộng đồng Phật giáo phản đối vì cho rằng có sự kỳ thị tôn giáo. Chứng kiến những bất công và sự đàn áp đối với tăng ni, Phật tử, vị tu sĩ trẻ không khỏi đau lòng. Ngài quyết định trở về Bình Thuận nhận trách nhiệm trụ trì chùa Bửu Tạng để vừa chăm lo Phật sự vừa đồng hành cùng Phật tử địa phương.Năm 1963 trở thành bước ngoặt lớn trong cuộc đời Ngài cũng như lịch sử Phật giáo Việt Nam. Sau sự kiện ngày 8 tháng 5 năm 1963 tại Huế khiến nhiều Phật tử thiệt mạng trong cuộc biểu tình đòi quyền bình đẳng tôn giáo, phong trào đấu tranh lan rộng khắp miền Nam. Ngày 11 tháng 6 năm 1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức t/ự t.h/i.ê.u tại Sài Gòn để phản đối chính sách đàn áp Phật giáo. Hình ảnh ấy gây chấn động dư luận quốc tế và tác động sâu sắc đến Đại đức Thích Nguyên Hương.Tại Bình Thuận, hưởng ứng lời kêu gọi của Giáo hội, Ngài tổ chức lễ cầu siêu cho các nạn nhân ở Huế. Tuy nhiên, buổi lễ bị chính quyền địa phương giải tán, nhiều Phật tử bị đ.e d.ọ@, theo dõi và b.ắ.t g.i.ữ. Không khí s.ợ h.ã.i bao trùm khắp các làng quê. Nhiều gia đình phải cất giấu bàn thờ Phật, không dám đến chùa lễ bái. Bản thân Ngài cũng luôn bị mật vụ theo dõi ngày đêm. Những đêm khuya trong ngôi chùa vắng lặng, Ngài chỉ lặng lẽ lễ Phật dưới ánh đèn dầu leo lét, từng bước chân cũng phải nhẹ nhàng để tránh sự dòm ngó của lực lượng an ninh.Trước tình hình ấy, Ngài nhiều lần trăn trở về trách nhiệm của người xuất gia đối với đạo pháp và dân tộc. Khi những cam kết giữa chính quyền và Phật giáo không được thực hiện, việc bắt bớ và đàn áp vẫn tiếp diễn, Ngài quyết định chọn con đường hy sinh thân mình như một tiếng chuông cảnh tỉnh.Ngày 3 tháng 8 năm 1963, tại chùa Tỉnh hội Bình Thuận diễn ra cuộc tuyệt thực của chư Tăng và Phật tử nhằm phản đối chính sách đàn áp Phật giáo. Đến đúng 12 giờ trưa ngày 4 tháng 8 năm 1963 (Rằm tháng Sáu âm lịch), Đại đức Thích Nguyên Hương lặng lẽ khoác y hậu, mang theo một can xăng khoảng bốn lít, tiến đến Đài Chiến sĩ đối diện Tòa Tỉnh trưởng Bình Thuận ở Phan Thiết. Sau khi đắp y chỉnh tề, Ngài ngồi kiết già, chắp tay nhập định rồi t.ự c.h.â.m l.ử.@ t.h.i.ê.u t.h.â.n.Điều khiến hàng nghìn người chứng kiến vô cùng xúc động là trong suốt quá trình ngọn l.ử.@ bao trùm toàn thân, Ngài vẫn giữ nguyên tư thế kiết già bất động. Hình ảnh ấy nhanh chóng lan truyền khắp nơi, trở thành biểu tượng cho tinh thần bất bạo động, lòng từ bi và ý chí bảo vệ đạo pháp của Phật giáo Việt Nam.Trước khi viên tịch, Ngài để lại bức trần tình thư với những lời tha thiết:"Tôi, một chú tiểu quét lá đa nhà chùa, cảm thấy cái trách nhiệm mình đã đến, không thể ngồi yên nhìn đạo pháp suy tàn, lý tưởng thiêng liêng bị dày xéo, nên đã phát nguyện t/ự t.h/i.ê.u t.h.â.n giả tạm này để cúng dường mười phương chư Phật, nguyện cầu bản Thông cáo chung được Chính phủ thực thi một cách trọn vẹn."Khi ấy, Đại đức Thích Nguyên Hương mới 23 tuổi, chỉ có 15 năm tuổi đạo và vừa tròn một tuổi hạ. Một cuộc đời rất ngắn ngủi nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Ngọn l.ử.@ của Ngài không nhằm gieo hận thù mà là lời kêu gọi hòa bình, tự do tín ngưỡng và sự tôn trọng quyền con người. Sự hy sinh ấy cùng với những vị Thánh tử đạo khác đã góp phần làm thay đổi nhận thức của dư luận quốc tế về tình hình Việt Nam năm 1963.Ngày nay, mỗi khi nhắc đến Đại đức Thích Nguyên Hương, người đời không chỉ nhớ đến một vị tu sĩ trẻ tuổi đã hiến dâng cả thân mạng vì lý tưởng, mà còn nhớ đến biểu tượng của lòng từ bi, sự kiên định và tinh thần vị pháp vong thân. Cuộc đời chỉ kéo dài hai mươi ba năm, nhưng ánh sáng từ ngọn lửa ấy vẫn còn soi rọi trong lịch sử Phật giáo Việt Nam cho đến tận hôm nay.



