Anh hùng Lực lượng vũ trang

ĐẠI NỘI HUẾ VÀ KÝ ỨC NĂM 1968

Có những địa danh khi được nhắc đến hôm nay gợi lên vẻ đẹp của lịch sử, văn hóa và những giá trị trường tồn của dân tộc. Nhưng với những người từng đi qua chiến tranh, cùng một địa danh ấy còn mang theo những ký ức rất khác – ký ức về những năm tháng khói lửa, về đồng đội, về những cuộc hành quân và những ngày tuổi trẻ không thể nào quên.

Nghệ An17/08/2026Đoàn trường THPT Bắc Yên Thành (Đoàn xã Giai Lạc)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đại nội Huế là một địa danh như thế.

Trong ký ức của ông Nguyễn Thanh Tỉnh, Đại nội Huế gắn với năm 1968, với trận chiến đầu tiên mà ông tham gia trong cuộc đời binh nghiệp. Đó là thời điểm ông mới khoảng 25 tuổi, một người lính trẻ vừa bước vào chiến trường và bắt đầu một hành trình mà sau này kéo dài suốt mười năm ở miền Nam.

Nhưng trước khi có ký ức về Huế, đã có một chàng trai trẻ rời quê hương.

Ông bắt đầu tham gia công tác cách mạng từ khi mới 18 tuổi, từng là cán bộ Đoàn ở địa phương. Những năm tháng ấy, tuổi trẻ của ông sớm gắn với công việc chung và tinh thần trách nhiệm. Đất nước đang trong chiến tranh, nhiều thanh niên lần lượt lên đường, và ông cũng không nằm ngoài dòng chảy lịch sử ấy.

Năm 1967, ông chính thức vào chiến trường.

Khi đó, ông chưa lập gia đình. Ở quê nhà vẫn có người thương, có gia đình và những tình cảm riêng tư của một chàng trai đang ở tuổi đẹp nhất của cuộc đời. Nhưng khi Tổ quốc cần, những tình cảm ấy được ông gác lại để lên đường.

Chỉ một năm sau, năm 1968, ông có trận chiến đầu tiên.

Đó là Mậu Thân tại Huế.

Nhắc đến Mậu Thân năm 1968, nhiều người thường hình dung ngay đến những trận chiến diễn ra tại khu vực thành phố Huế và Đại nội. Nhưng trong lời kể của ông, cần hiểu rõ vị trí của đơn vị mình trong toàn bộ đội hình chiến đấu.

Ông thuộc Sư đoàn 324, hoạt động ở vòng ngoài. Theo cách ông giải thích, trong chiến đấu có lực lượng trực tiếp và lực lượng phối hợp, hỗ trợ phía sau. Lực lượng chủ lực thực hiện nhiệm vụ trực tiếp ở những khu vực trọng yếu, còn các đơn vị ở vòng ngoài đảm nhiệm những nhiệm vụ phối hợp và hỗ trợ theo yêu cầu của chiến dịch.

Vì vậy, khi nhắc đến Đại nội Huế, ông không kể mình là người trực tiếp chiến đấu bên trong Đại nội.

Ông kể về nó như một phần của trận chiến đầu tiên mà đơn vị ông tham gia trong mùa Xuân năm 1968.

Điều đó rất quan trọng khi lưu giữ những câu chuyện lịch sử.

Bởi mỗi người lính có một vị trí, một nhiệm vụ và một góc nhìn khác nhau về cùng một chiến dịch. Một trận đánh lớn không chỉ được tạo nên bởi những người trực tiếp tiến vào mục tiêu. Phía sau họ còn có những lực lượng phối hợp, những đơn vị làm nhiệm vụ ở vòng ngoài và những người đảm bảo cho toàn bộ đội hình chiến đấu vận hành.

Người lính trẻ năm ấy đứng ở một vị trí như vậy.

Nhưng dù ở vòng ngoài hay trực tiếp trong khu vực chiến đấu, chiến tranh vẫn là chiến tranh.

Đó là lần đầu tiên ông thực sự đối mặt với chiến trường.

Những điều từng biết qua huấn luyện giờ trở thành hiện thực.

Sự căng thẳng của chiến đấu.

Sự khắc nghiệt của những cuộc hành quân.

Sự sống và cái chết của những người ở bên cạnh.

Và quan trọng hơn cả là cảm giác bước vào một cuộc chiến mà không ai có thể biết trước ngày trở về.

Năm 1968 vì thế trở thành một dấu mốc đặc biệt trong cuộc đời ông.

Từ đây, người thanh niên 25 tuổi ấy tiếp tục ở lại chiến trường miền Nam trong khoảng 10 năm.

Mười năm ấy đã trở thành phần lớn tuổi xuân của ông.

Ông kể rằng có những ngày cao điểm phải chiến đấu tới 5–6 trận. Ngày và đêm nối tiếp nhau. Những người lính gần như không có thời gian để nghĩ về cuộc sống riêng.

Nhưng điều khiến ông nhớ nhất không chỉ là những trận đánh.

Đó là đồng đội.

Những người từng cùng ông bước vào chiến trường năm ấy dần có người còn, người mất.

Ông từng kể về một đại đội gồm 120 chàng trai trẻ mà ông nhận quân bổ sung khi giữ cương vị Đại đội trưởng. Đó là những người lính trẻ khỏe mạnh, đầy sức sống.

Nhưng chỉ qua một vài trận đánh, đại đội ấy chỉ còn khoảng 20–23 người sống sót. Những người khác hy sinh hoặc bị thương.

Những con số ấy khiến ký ức về năm 1968 không thể chỉ được nhìn như một mốc thời gian lịch sử.

Đó là những con người cụ thể.

Những người có cha mẹ.

Có anh em.

Có quê hương.

Có những ước mơ riêng.

Và có thể cũng có những người thương đang chờ đợi.

Chiến tranh đã lấy đi nhiều người trong số họ.

Bởi vậy, khi kể về những năm tháng chiến đấu, ông thường không nhấn mạnh vào chiến công của cá nhân. Ông nhắc đến đồng đội, nhắc đến những người đã hy sinh và nhắc đến cái giá mà chiến tranh để lại.

Ông từng nói rằng không có một cái giá nào có thể bù đắp cho những mất mát ấy.

Quảng Trị sau này cũng trở thành một trong những chiến trường ông từng đi qua. Ông cho rằng Quảng Trị là một trong những nơi rất khốc liệt, nhưng đó chỉ là một điểm trong rất nhiều chiến trường ác liệt mà người lính từng trải qua.

Những năm tháng ấy đã rèn luyện con người.

Ông nói cuộc đời người lính giống như quá trình “thử lửa thử vàng”. Ai đi qua được những thử thách khắc nghiệt ấy thì càng hiểu giá trị của sự sống và hòa bình.

Sau năm 1975, khi miền Nam được giải phóng, ông tiếp tục nhận nhiệm vụ mới. Với kinh nghiệm chiến đấu, ông được điều động ra Bắc làm công tác tham mưu tác chiến, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Gần 30 năm trong quân ngũ, ông đã dành phần lớn tuổi trẻ và những năm tháng trưởng thành cho nhiệm vụ.

Đến khi nghỉ hưu trở về quê, ông vẫn tiếp tục tham gia công tác địa phương, từng làm Trưởng xóm, Bí thư xóm và phụ trách Hội Người cao tuổi.

Hôm nay, khi đã ở tuổi 87, ông nhìn lại ký ức năm 1968 bằng một tâm thế của người đã đi qua gần trọn một đời người.

Đại nội Huế giờ đây là một di sản văn hóa nổi tiếng.

Huế hôm nay mang vẻ đẹp của một thành phố lịch sử, bình yên và thơ mộng.

Nhưng trong ký ức của những người từng đi qua chiến tranh, Huế còn lưu giữ những câu chuyện của một thời tuổi trẻ.

Với ông, năm 1968 không chỉ là một năm trong lịch sử.

Đó là năm ông lần đầu bước vào chiến trường.

Đó là năm một chàng trai 25 tuổi bắt đầu hành trình mười năm xa quê.

Đó là năm ông bắt đầu chứng kiến những mất mát của đồng đội.

Và cũng từ năm ấy, ông hiểu sâu sắc hơn giá trị của hòa bình.

Hôm nay, ông vui khi nhìn những người trẻ khỏe mạnh, rạng rỡ. Ông mong thế hệ trẻ được sống trong hòa bình, được học tập, được theo đuổi ước mơ và có cơ hội xây dựng tương lai.

Ông chỉ nhắn nhủ các cháu phải biết rèn luyện, có chí hướng và luôn phấn đấu.

Bởi thế hệ của ông đã từng phải dùng tuổi trẻ để đi qua chiến tranh.

Còn thế hệ hôm nay có trách nhiệm dùng tuổi trẻ để xây dựng quê hương, đất nước trong hòa bình.

Đại nội Huế vẫn đứng đó, thời gian đã đi qua.

Những người lính năm 1968 cũng đã già đi.

Người cựu chiến binh năm ấy giờ đã 87 tuổi.

Nhưng ký ức về mùa Xuân năm 1968 vẫn còn trong câu chuyện ông kể.

Đó là ký ức của một người lính.

Là ký ức của một thế hệ.

Và cũng là một phần ký ức của lịch sử dân tộc.

Có những địa danh được nhớ bằng vẻ đẹp. Có những địa danh được nhớ bằng lịch sử. Và với những người từng đi qua chiến tranh, Đại nội Huế còn được nhớ bằng một mùa Xuân năm 1968 – nơi tuổi trẻ bắt đầu bước vào những năm tháng thử thách, để rồi từ những mất mát và hy sinh ấy, càng thấm thía giá trị của hai chữ hòa bình.

Video / Phóng sự

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn