Đại tá Bùi Văn Ba
Đại tá Bùi Văn Ba (sinh ngày 22/12/1930, mất ngày 5/1 âm lịch năm 1998); Quê gốc: Trà Vinh. Ông sinh ở Phường 22, Quận 8, Sài Gòn (nay là Phường 7, Quận 8, TP HCM). Ông là một chiến sĩ của Tiểu đoàn quyết tử 950 thuộc Đặc Khu Sài Gòn - Chợ Lớn trong kháng chiến chống Pháp trước đây và là một trong số những người được phong tặng danh hiệu Anh hùng đầu tiên của quân đội Việt Nam. Nhà ông nằm trong Khu cư xá Ngân hàng ở phường Tân Thuận Tây, Quận 7.
Ông tham gia kháng chiến vào những ngày “Nóp với giáo mang ngang vai” của mùa Thu cách mạng năm 1945. Hơn hai năm sau ông được biên chế về Đội vũ trang Tự vệ Thành hoạt động nửa bí mật, nửa công khai.
Tháng 10/1950, Tiểu đoàn quyết tử 950 được biên chế thành các đại đội quyết tử độc lập 3721 (tức là 3 x 7 = 21), 3824, 3927. Ông thuộc đại đội 3721 Đặc công Thành. Tiêu biểu trong những trận đánh mà ông tham gia là trận tập kích Kho bom Phú Thọ Hòa năm 1954, và đây cũng là chiến công nổi bật nhất trong quá trình chiến đấu của ông.
Hồi đó suốt từ ngã tư Bà Quẹo đến ngã tư Bảy Hiền về tới khu chợ Tân Bình ngày nay toàn là đồng ruộng cùng với những vạt rừng cao su, đâu có phố xá như bây giờ. Xã Phú Thọ Hòa nằm chếch về mạn tây nam của Phi trường Tân Sơn Nhất. Tại đây Pháp cho xây dựng một hệ thống kho vũ khí nằm ẩn trong rừng cao su lớn có tán cây che phủ rậm rạp. Kho được xây theo hình bầu dục có chiều dài hơn hai cây số, rộng hơn cây số rưỡi. Đây là kho dự trữ bom đạn, nhiên liệu phục vụ chiến tranh của Pháp ở Việt Nam và Đông Dương. Theo chỉ đạo của trên, đặc công ta phải diệt ngay “túi dạ dày” nguy hiểm này. Thắng lợi của trận này còn có ý nghĩa rất lớn. Đó là đánh bồi thêm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nhằm nhanh chóng đi đến kết thúc chiến tranh.
Để giữ an toàn cho kho vũ khí quan trọng này, Pháp đã cho xây dựng một mạng lưới bảo vệ hết sức cẩn mật, thậm chí đến một con chó, một con gà cũng khó lọt vào trong. Ngoài hàng chục lớp rào cùng với nhiều loại mìn giăng chằng chịt thì cứ khoảng 15 đến 20 phút lại có lính canh tuần tra xung quanh. Nếu định đột nhập vào trong khi đang mắc kẹt giữa các lớp rào, lính và chó tuần tra bắt gặp thì chỉ có hai cửa: một là đánh liều chết, hai là bị bắt.
Do đó để đánh vào chắc thắng, ông đã cùng ba đồng đội lợi dụng đêm tối và sơ hở của địch ra vào kho hàng chục lần để điều nghiên, nắm từng chi tiết chuẩn bị cho trận đánh. Vừa kể ông vừa đưa cho tôi xem chiếc đèn pin nhỏ như ngón tay cùng với tấm sơ đồ bằng giấy do ông vẽ (nay đã sẫm màu), đánh dấu ghi lại từng khu nhà, từng hàng, từng loại bom trong kho. Ông nói mặt bằng của kho rộng lắm, nên chỉ chọn những vị trí quan trọng để cài chất nổ, khi đã nổ thì tự bom, đạn trong kho sẽ nổ chuyền, địch có muốn cứu cũng chịu thua!
Cùng tham gia trận này còn có đồng chí Phạm Văn Hai (sau này trong kháng chiến chống Mỹ vào ngày 2/5/1965 cũng đã được tuyên dương danh hiệu Anh hùng). Do tính toán và chuẩn bị kỹ cùng với công tác hiệp đồng chặt chẽ nên tổ đặc công của ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Đêm 31/5, rạng sáng ngày 1/6/1954, kho bom Phú Thọ Hòa nổ tung, lửa cháy rực trời phía Tây thành phố, tiếng bom, đạn nổ rung chuyển cả nội đô. Đặc biệt là 12 cán bộ, chiến sĩ tham gia trận đánh do Đội trưởng Nguyễn Văn Cự (tức Ba Huỳnh) chỉ huy đều an toàn.
Đây là trận đánh đặc công nổi tiếng và đạt hiệu suất chiến đấu cao trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở Sài Gòn và Nam bộ lúc bấy giờ. Ta đã thiêu hủy 9.345 tấn bom đạn, 10 triệu lít xăng dầu của địch; một đại đội lính Âu Phi với gần 400 tên đến cứu nguy kho vũ khí đã bị tiêu hao nặng. Sau trận này, tổ đặc công của ông được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì, mỗi đội viên trong tổ đều được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất.
Đầu tháng 10/1954, đồng chí Bùi Văn Ba tập kết ra Bắc và ngày 7/5/1956 được Nhà nước tuyên dương Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Ông đã ba lần được gặp Bác Hồ. Đó là một đặc ân mà Bác đã dành cho ông - một trong những đứa con quê ở miền Nam tập kết ra Bắc. Đến đầu tháng 9/1969, khi Bác Hồ mất, tại hội trường Ba Đình, ông đã vinh dự được đứng bên linh cữu của Người năm phút…
Năm 1980 ông là đại biểu Quốc hội khóa VII, nhiệm kỳ (1980-1986). Năm 1988, về nghỉ hưu với cấp hàm đại tá, cuộc sống đời thường của ông cũng bình dị như bao người khác. Có khác chăng là niềm vui được sống lại với những ký ức hào hùng ngày trước, khi ông nhận lời mời đến các cơ quan, đoàn thể, nhà trường để kể chuyện truyền thống, trong đó có những trận đánh mà ông tham gia.
Qua ông, tôi được biết, bà Lê Thu Ba, vợ ông, quê ở Bạc Liêu cũ (nay là Cà Mau) cũng xấp xỉ tuổi ông, là cô gái Nam bộ tập kết. Ngày hai người cưới nhau bà đang là giáo viên dạy học ở Từ Sơn, Bắc Ninh. Ở tuổi xế chiều, hai vợ chồng ông ở chung với cô con gái út trong số ba người con (hai gái, một trai).
Là Bộ đội Cụ Hồ thì đừng bao giờ quên mình là con em của nhân dân. Phải đồng cam cộng khổ, kính trọng, yêu quý, giúp đỡ dân. Làm tốt điều đó thì chẳng có khó khăn nào không vượt qua được... Thế rồi, năm 1998 ông đã ra đi sau một cơn đau đột ngột để lại tiếc thương cho người thân và nhiều đồng chí, đồng đội, và những người có may mắn được biết ông. Hiện ông được an táng tại Nghĩa trang TP HCM (Thành phố Thủ Đức, TP HCM).
Ghi nhớ những chiến công anh dũng một thời, hiện nay ở Quận 7 Thành phố HCM đã có một con đường mang tên Bùi Văn Ba - Người anh hùng của Tiểu đoàn quyết tử 950 Sài Gòn - Chợ Lớn năm xưa.


