ĐẠI TÁ, KỸ SƯ NGUYỄN VĂN ĐỆ: “BỘ NÃO VÀNG” VÀ BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI LÍNH ĐIỀU KHIỂN TÊN LỬA TRONG BÃO LỬA PHÒNG KHÔNG
Trong trang sử hào hùng của Quân chủng Phòng không – Không quân Việt Nam, nếu như những quả đạn tên lửa SAM-2 vút lên xé toang bầu trời Hà Nội là “cú đấm thép” đánh gãy xương sống không quân chiến lược Mỹ, thì đằng sau đó là một cuộc đọ trí không khoan nhượng về khoa học quân sự công nghệ cao. Trên trận tuyến trí tuệ ấy, Đại tá, Kỹ sư, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Đệ – chuyên gia hàng đầu về khí tài tên lửa, người con ưu tú của đất Thăng Long – Hà Nội – đã tạc nên một tượng đài về ý chí tự lực tự cường và tài năng sáng tạo kiệt xuất. Bằng bàn tay tài hoa, khối óc mưu lược và bản lĩnh chính trị vững vàng, ông cùng đồng đội đã khuất phục hoàn toàn các thủ đoạn nhiễu tinh vi của đế quốc Mỹ, “vạch nhiễu tìm thù”, góp công to lớn làm nên kỳ tích “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972, rồi tiếp tục cống hiến trọn vẹn trí tuệ và uy tín trong sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc với tư cách Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
I. MẶT TRẬN TÁC CHIẾN ĐIỆN TỬ: CUỘC ĐỌ SỨC VÔ HÌNH VÀ VÔ CÙNG TÀN KHỐC
Chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ đối với miền Bắc Việt Nam (1965 – 1972) không đơn thuần là cuộc chiến đọ về số lượng bom đạn, mà là đỉnh cao của chiến tranh công nghệ cao thời điểm bấy giờ. Đế quốc Mỹ đã dốc toàn bộ tinh hoa kỹ thuật quân sự, huy động những phòng thí nghiệm hiện đại nhất để phát triển các hệ thống tác chiến điện tử (Electronic Warfare - EW). Chúng áp dụng đủ mọi hình thức gây nhiễu: nhiễu trong đội hình, nhiễu ngoài đội hình từ các máy bay EB-66 bay lượn trên bầu trời Lào và Vịnh Bắc Bộ, nhiễu tiêu cực (rải hàng triệu sợi kim loại mỏng như lá lúa làm mù màn hình radar), và đặc biệt là nhiễu tích cực phát sóng đè nát các dải tần số vô tuyến của radar điều khiển tên lửa SAM-2.
Tổ hợp tên lửa phòng không SAM-2 (S-75 Dvina) do Liên Xô viện trợ là vũ khí chủ lực tiêu diệt mục tiêu tầm cao, bảo vệ đầu não Hà Nội, Hải Phòng và các tuyến giao thông huyết mạch. Tuy nhiên, nguyên lý bám bắt và dẫn đường tên lửa SAM-2 phụ thuộc sống còn vào radar điều khiển hỏa lực. Mỗi khi máy bay Mỹ xuất hiện, màn huỳnh quang của đài điều khiển tên lửa ta thường bị các dải nhiễu dày đặc che kín, chớp sáng liên hồi như một “rừng gươm” hay các đốm sáng hình hoa cải, hoa cúc, khiến trắc thủ không thể phân biệt đâu là tín hiệu thực của máy bay, đâu là tín hiệu giả.
Nguy hiểm hơn, không quân Mỹ liên tục cải tiến tần số máy phát nhiễu, thay đổi phương thức bay và sử dụng tên lửa chống radar AGM-45 Shrike. Khi đài radar phát sóng để bắt mục tiêu, tên lửa Shrike sẽ tự động bám theo cánh sóng radar đánh thẳng vào cabin điều khiển để tiêu diệt kíp trắc thủ và phá hủy khí tài trong tích tắc.
Trong bối cảnh ngặt nghèo ấy:
Khí tài của ta được viện trợ có hạn, phụ tùng thay thế khan hiếm, đòi hỏi phải tiết kiệm từng bóng đèn điện tử, từng khối mạch vi ba.
Các chuyên gia kỹ thuật quân sự Liên Xô dù giàu kinh nghiệm nhưng chưa từng trải qua một cuộc đối đầu thực tế với quy mô gây nhiễu dồn dập, biến hóa khôn lường của Mỹ như tại chiến trường Việt Nam.
Yêu cầu cấp bách của chiến trường đặt ra: Đội ngũ kỹ sư quân sự Việt Nam phải tự mình nghiên cứu, mổ xẻ từng sơ đồ mạch điện, hiểu sâu sắc cơ chế gây nhiễu của địch để cải tiến, tinh chỉnh khí tài ngay tại thực địa, bảo đảm cho tên lửa bắt trúng mục tiêu máy bay B-52 giữa biển nhiễu mù mịt.
Đại tá Nguyễn Văn Đệ – với tư cách là một kỹ sư điều khiển tên lửa tài ba – đã gánh vác sứ mệnh khoa học quân sự lịch sử ấy.
II. NGƯỜI CON ĐẤT HÀ THÀNH VÀ HÀNH TRÌNH CHINH PHỤC CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ TỐI TÂN
Nguyễn Văn Đệ sinh năm 1932 tại Hà Nội – mảnh đất nghìn năm văn hiến, nơi hội tụ khí phách hào hoa, trí tuệ và tinh thần kiên trung của dân tộc. Lớn lên trong những năm tháng đất nước chịu ách đô hộ của thực dân, chứng kiến cảnh lầm than của nhân dân, người thanh niên Hà thành sớm ấp ủ lý tưởng phụng sự non sông bằng con đường tri thức và cách mạng.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và những năm tháng kháng chiến chống Pháp, với nền tảng học vấn vững vàng, tư duy khoa học logic sắc sảo và phẩm chất chính trị kiên định, Nguyễn Văn Đệ được tổ chức lựa chọn, cử đi đào tạo bài bản về ngành kỹ thuật quân sự chuyên sâu tại nước ngoài. Ông theo học chuyên ngành điều khiển tên lửa phòng không – một trong những lĩnh vực khoa học công nghệ tiên tiến, phức tạp và cơ mật bậc nhất của thời đại bấy giờ.
Tại giảng đường nước bạn, người thanh niên Việt Nam đã miệt mài học tập, nghiên cứu không quản ngày đêm:
Ông làm chủ toàn diện các nguyên lý khí động học, lý thuyết điều khiển tự động, kỹ thuật vô tuyến vi ba và các thuật toán bám bắt mục tiêu của hệ thống tên lửa phòng không.
Không chỉ tiếp thu lý thuyết giáo khoa, ông luôn đặt ra những câu hỏi hóc búa về khả năng thích ứng của khí tài trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nhiều mưa gió, cũng như kịch bản đối phương sử dụng các biện pháp phản kích điện tử tinh vi.
Nắm chắc từng thông số kỹ thuật của từng khối chức năng trong cabin điều khiển: khối phát cao tần, khối giải mã tín hiệu vô tuyến, khối máy tính giải bài toán đón đầu mục tiêu, và hệ thống ngòi nổ vô tuyến cận đích.
Trở về nước đúng vào thời điểm đế quốc Mỹ leo thang ném bom phá hoại miền Bắc, kỹ sư Nguyễn Văn Đệ lập tức khoác ba lô ra trận tuyến, trực tiếp tham gia xây dựng và hoàn thiện lực lượng kỹ thuật cho các trung đoàn tên lửa phòng không non trẻ của Quân đội nhân dân Việt Nam.
III. NHỮNG CÔNG TRÌNH “VẠCH NHIỄU TÌM THÙ”: ĐỈNH CAO TRÍ TUỆ VÀ SỰ SÁNG TẠO XUYÊN LỬA ĐẠN
Từ năm 1965, khi Trung đoàn Tên lửa 236 đánh thắng trận đầu tại Suối Hai (Hà Tây), không quân Mỹ cay cú tập trung mọi nỗ lực để vô hiệu hóa SAM-2. Các phi vụ đánh phá miền Bắc ngày càng có mật độ nhiễu điện tử dày đặc. Có những thời điểm, các tiểu đoàn tên lửa phóng hàng chục quả đạn mà không trúng đích do đạn bị nhiễu làm lạc hướng bay hoặc ngòi nổ kích nổ sớm giữa không trung.
Trước tình thế hiểm nghèo đe dọa đến hiệu quả chiến đấu của toàn quân chủng, Kỹ sư Nguyễn Văn Đệ không ngồi trong các phòng thí nghiệm hay cơ quan tham mưu tuyến sau. Ông trực tiếp lặn lội xuống các trận địa dã chiến, vào tận các xe điều khiển (cabin PA-00) của các tiểu đoàn hỏa lực ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Bình, Vĩnh Linh:
1. Giải mã các dạng nhiễu và "đọc vị" thủ đoạn của không quân Mỹ
Giữa cái nóng hầm hập của mùa hè miền Bắc, trong cabin chật chội ngột ngạt nồng nặc mùi kim loại và nhựa thông cháy, Kỹ sư Nguyễn Văn Đệ cùng các kíp trắc thủ ngồi hàng giờ trước màn huỳnh quang radar. Giữa lúc bom đạn gầm rú, ông tỉ mỉ chụp ảnh dạng sóng xung nhiễu, ghi chép từng biến thiên tần số, đo đạc công suất phát xung và góc phân kỳ của dải nhiễu mà máy bay Mỹ tạo ra:
Ông xác định rõ bản chất vật lý của các loại nhiễu tích cực do máy bay mang theo, tìm ra quy luật phát xạ và những kẽ hở tần số mà đối phương không thể che lấp hoàn toàn.
Ông phát hiện ra rằng dải nhiễu dù mạnh đến đâu cũng có điểm cực đại và điểm suy giảm biên độ; chỉ cần người điều khiển hiểu thấu bản chất của tín hiệu thì hoàn toàn có thể "lách" qua khe hở này để tìm thấy cánh sóng phản xạ thực sự từ thân máy bay.
2. Sáng tạo các giải pháp kỹ thuật cải tiến hệ thống dẫn đường tên lửa
Bằng kiến thức uyên bác và thực nghiệm tại trận địa, Kỹ sư Nguyễn Văn Đệ đã đề xuất và trực tiếp tham gia thực hiện hàng loạt cải tiến kỹ thuật mang tính đột phá cho tổ hợp SAM-2:
Tăng cường khả năng chống nhiễu rãnh đạn và rãnh mục tiêu: Ông tính toán, thay đổi các thông số lọc tín hiệu, gia cố mạch hồi tiếp chống nhiễu trong bộ thu của đài điều khiển; hạn chế tối đa hiện tượng tín hiệu nhiễu lọt vào bộ khuếch đại làm sai lệch lệnh điều khiển bay.
Quy trình bắt mục tiêu trong môi trường nhiễu nặng: Ông cùng các chuyên gia đầu ngành đúc kết, hoàn thiện quy trình đồng bộ giữa các trắc thủ phương vị, trắc thủ góc tà và trắc thủ cự ly; xây dựng phương pháp "bắt nhiễu dải" và "bắt tâm nhiễu", hướng dẫn các kíp chiến đấu cách phân biệt dải nhiễu của máy bay chiến thuật (F-4, F-105) với dải nhiễu đặc thù, to rộng của máy bay ném bom chiến lược B-52.
Khắc chế tên lửa chống bức xạ Shrike: Để bảo vệ đài radar và tính mạng kíp trắc thủ trước tên lửa Shrike, ông đã tham gia nghiên cứu phương pháp "phát sóng ngắt quãng" và sử dụng thiết bị phát sóng nghi binh. Khi tên lửa Shrike được phóng ra từ máy bay địch, radar của ta chỉ phát sóng trong những khoảng thời gian cực ngắn tính bằng mili-giây để đủ sửa đổi lệnh bay cho tên lửa của ta, sau đó lập tức tắt sóng hoặc chuyển hướng phát sóng, khiến tên lửa Shrike của Mỹ mất phương hướng và rơi tự do xuống đất trống.
3. Góp công quyết định làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (12/1972)
Cuối năm 1972, Tổng thống Mỹ Richard Nixon phát động Chiến dịch Linebacker II – cuộc tập kích đường không chiến lược quy mô lớn nhất sau Thế chiến thứ hai, dùng "pháo đài bay" B-52 rải thảm hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng nhằm ép ta phải nhượng bộ trên bàn đàm phán Paris.
Trong 12 ngày đêm khói lửa lịch sử ấy, bầu trời Hà Nội rực sáng đạn pháo và tên lửa. Nhờ những cải tiến kỹ thuật, phương pháp bám bắt mục tiêu chuẩn xác và quy trình bảo dưỡng khí tài hoàn hảo mà Kỹ sư Nguyễn Văn Đệ cùng đội ngũ kỹ thuật quân sự đã dày công chuẩn bị trước đó:
Các đài radar của các Trung đoàn Tên lửa 261, 257, 274... đã xuyên thủng mọi bức màn nhiễu điện tử của không quân Mỹ.
Các kíp trắc thủ dũng cảm, điềm tĩnh đã "vạch nhiễu tìm thù", phát hiện chính xác những chiếc B-52 khổng lồ lẩn khuất trong đám mây kim loại nhiễu tiêu cực và nhiễu tích cực.
Hàng chục quả tên lửa SAM-2 bay vút lên bầu trời, bắn trúng đích và hạ gục tại chỗ 34 chiếc "pháo đài bay" B-52 – thứ vũ khí mà không lực Hoa Kỳ từng ngạo mạn tuyên bố là "bất khả xâm phạm".
Chiến thắng oanh liệt ấy đã làm phá sản hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược của đối phương, buộc chính phủ Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris năm 1973, rút toàn bộ quân viễn chinh về nước, tạo tiền đề quyết định cho cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
IV. BẢN LĨNH NGƯỜI CHỈ HUY KỸ THUẬT VÀ PHẦN THƯỞNG CAO QUÝ NĂM 1985
Sau ngày non sông thu về một mối, Đại tá, Kỹ sư Nguyễn Văn Đệ tiếp tục dành trọn tâm huyết cho công tác quản lý kỹ thuật, nghiên cứu khoa học và đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật trẻ cho Quân chủng Phòng không – Không quân và toàn quân.
Trong bối cảnh đất nước bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế đầy khó khăn sau chiến tranh, việc duy trì hệ số kỹ thuật của các tổ hợp tên lửa, radar khí tài đã qua nhiều năm tham chiến là một thách thức vô cùng lớn.
Ông chỉ đạo và trực tiếp tham gia công tác niêm cất, phục hồi, cải tiến hàng trăm bộ khí tài radar, xe điều khiển, bệ phóng tên lửa;
Đẩy mạnh phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tận dụng linh kiện trong nước thay thế vật tư nhập khẩu;
Viết và chuẩn hóa nhiều giáo trình, tài liệu kỹ thuật chuyên sâu về điều khiển tự động và tác chiến điện tử làm tài liệu giảng dạy cho các học viện, nhà trường quân đội.
Dù ở vị trí nào, người kỹ sư quân sự Hà thành luôn giữ phong cách làm việc cẩn trọng, tỉ mỉ, liêm chính, khiêm nhường, luôn lắng nghe và sẵn sàng chia sẻ tri thức cho cấp dưới.
Ghi nhận những cống hiến đặc biệt xuất sắc, tài năng quân sự công nghệ cao và lòng quả cảm phi thường trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng như sự nghiệp xây dựng quân đội chính quy, hiện đại, năm 1985, Đại tá, Kỹ sư Nguyễn Văn Đệ đã vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
V. TÂM HUYẾT VỚI KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC: ỦY VIÊN ĐOÀN CHỦ TỊCH MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Không chỉ là một nhà khoa học quân sự kiệt xuất, Đại tá Nguyễn Văn Đệ còn là một trí thức cách mạng mẫu mực, có uy tín sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, giới nhân sĩ, trí thức và các lực lượng xã hội.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ III (nhiệm kỳ 1988 – 1994) – thời kỳ đất nước bắt đầu bước vào công cuộc Đổi mới toàn diện với muôn vàn trăn trở, tìm tòi và thử thách – đồng chí Nguyễn Văn Đệ đã được đại hội tín nhiệm bầu làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Trên cương vị lãnh đạo cao cấp của cơ quan Mặt trận:
Cầu nối gắn kết tầng lớp trí thức và lực lượng vũ trang: Với bề dày thực tiễn quân ngũ và tầm vóc của một nhà khoa học kỹ thuật hàng đầu, ông đại diện cho tiếng nói tâm huyết của đội ngũ trí thức quân đội, trí thức khoa học – công nghệ nước nhà; tích cực đóng góp các ý kiến chiến lược về chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài khoa học phục vụ phát triển kinh tế và củng cố nền quốc phòng toàn dân.
Phát huy dân chủ và củng cố khối đại đoàn kết: Ông luôn tâm niệm: "Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Đoàn kết là sức mạnh vô địch, như Bác Hồ đã dạy: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công". Ông dành nhiều thời gian đi thực tế cơ sở, gặp gỡ đồng bào, kiều bào và các cựu chiến binh, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân để phản ánh kịp thời với Đảng, Nhà nước.
Gìn giữ phẩm chất người lính Thăng Long: Trong mọi diễn đàn chính trị – xã hội, ông luôn giữ trọn cốt cách tao nhã, điềm đạm nhưng đanh thép, thẳng thắn của người con đất Hà thành; kiên trì bảo vệ lẽ phải, bảo vệ lợi ích tối cao của dân tộc và ấm no, hạnh phúc của nhân dân.
VI. BIỂU TƯỢNG BẤT TỬ CỦA TRÍ TUỆ VÀ BẢN LĨNH VIỆT NAM
Cuộc đời và sự nghiệp của Đại tá, Kỹ sư, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Đệ là một biểu tượng ngời sáng cho sự hòa quyện tuyệt đẹp giữa Trí tuệ thời đại – Bản lĩnh người lính – Tấm lòng vì Dân, vì Nước.
Từ một thanh niên trí thức đất kinh kỳ theo tiếng gọi non sông, ông đã bước vào trận địa lửa đạn của cuộc chiến tranh công nghệ khốc liệt nhất lịch sử; dùng chính tri thức khoa học, sự mưu trí và lòng dũng cảm để khuất phục các loại vũ khí tối tân nhất của kẻ thù xâm lược. Những đóng góp thầm lặng mà vĩ đại của ông cùng tập thể các kỹ sư, chuyên gia kỹ thuật phòng không đã tạc nên trang sử vàng chói lọi của Bộ đội Tên lửa Việt Nam anh hùng.
Trở về với đời thường và gánh vác trọng trách tại Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ông tiếp tục đem bầu nhiệt huyết và uy tín cao đẹp của mình để vun đắp cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc, để lại bài học sâu sắc cho các thế hệ trẻ hôm nay và mai sau: Lòng yêu nước chân chính phải luôn đi đôi với tinh thần tự học, tự rèn, làm chủ khoa học công nghệ đỉnh cao để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.



