Đại tá Lê Phát Thành
Trong một buổi sáng yên bình tại khu di tích lịch sử Miễu Bà Cố, huyện Châu Thành, tỉnh Long An, bạn – chúng tôi, những người đoàn viên thanh niên – ngồi lắng nghe câu chuyện từ vị Đại tá già đã ngoài chín mươi tuổi. Ông dáng người vẫn thẳng, giọng nói trầm ấm xen lẫn những hồi ức xa xôi. Ông là Đại tá Nguyễn Văn X, người đã trực tiếp tham gia chỉ huy và chiến đấu trong trận Hiệp Thạnh - Phú Ngãi Trị - Miễu Bà Cố ngày 24 tháng 2 năm 1954.

Trong một buổi sáng yên bình tại khu di tích lịch sử Miễu Bà Cố, huyện Châu Thành, tỉnh Long An, bạn – chúng tôi, những người đoàn viên thanh niên – ngồi lắng nghe câu chuyện từ vị Đại tá già đã ngoài chín mươi tuổi. Ông dáng người vẫn thẳng, giọng nói trầm ấm xen lẫn những hồi ức xa xôi. Ông là Đại tá Nguyễn Văn X, người đã trực tiếp tham gia chỉ huy và chiến đấu trong trận Hiệp Thạnh - Phú Ngãi Trị - Miễu Bà Cố ngày 24 tháng 2 năm 1954.
Ông kể rằng, giữa tháng 2 năm 1954, Tiểu đoàn 309 nhận lệnh phối hợp với quân dân Châu Thành chuẩn bị đánh địch tại khu vực Hiệp Thạnh - Phú Ngãi Trị. Sau khi tiêu diệt đồn Vĩnh Công, lực lượng ta nhanh chóng bố trí phục kích dọc lộ 12, lấy khu vực Miễu Bà Cố làm trọng điểm. Lúc ấy, ông là một cán bộ chỉ huy trẻ của Tiểu đoàn. Các chiến sĩ hành quân suốt đêm, đến nơi thì phải bố trí ngay trong nhà dân. Bữa cơm quân dân đạm bạc đang diễn ra trong không khí ấm áp bỗng phải bỏ dở khi trinh sát báo tin địch kéo đến.
Khoảng 10 giờ sáng ngày 24 tháng 2, ba cánh quân địch từ các hướng Tầm Vu, Vĩnh Công và Kỳ Son tiến vào. Đó là Tiểu đoàn Bảo An Việt Nam 502 và Đại đội 14 Tân An, với lực lượng đông đảo, được hỗ trợ xe cơ giới và hỏa lực mạnh. Lực lượng ta chỉ có hai đại đội của Tiểu đoàn 309 cùng một trung đội địa phương quân Vàm Cỏ và một số du kích xã, vũ khí thô sơ, đạn dược hạn chế.
Chúng tôi không khỏi xúc động khi nghe ông Đại tá kể về những khó khăn khôn cùng. Các chiến sĩ phải nằm phục trong ruộng lúa, vườn cây và những hầm cá nhân đào vội, dưới trời nắng chang chang xen mưa phùn lạnh buốt. Bom đạn địch dội xuống dữ dội, khói lửa mịt mù, đất rung chuyển. Nhiều đồng chí bị thương nặng nhưng vẫn cắn răng bám vị trí, không một lời kêu ca. Khi trận đánh chuyển sang giai đoạn giằng co ác liệt và cận chiến, ba gọng kìm của lực lượng ta siết chặt. Tiếng súng hòa lẫn tiếng hô xung phong, lưỡi lê va chạm, máu thấm đỏ những luống đất và con mương quanh Miễu Bà Cố. Có những chiến sĩ đã lao vào địch bằng tay không khi đạn hết sạch. Nhiều người ngã xuống ngay tại trận địa, hy sinh trong tuổi thanh xuân.
“Khó khăn lớn nhất không chỉ là bom đạn và sức mạnh vũ khí của địch,” ông Đại tá trầm giọng nói, “mà còn là cái đói, cái khát, sự mệt mỏi triền miên sau những ngày hành quân liên tục và thiếu thốn mọi thứ. Nhưng tinh thần quyết tâm vì độc lập tự do đã giúp anh em vượt qua tất cả.”
Sau nhiều giờ chiến đấu anh dũng, Tiểu đoàn 309 phối hợp quân dân Châu Thành đã giành thắng lợi vang dội: diệt 145 tên địch, bắt sống 123 tên, thu nhiều súng đạn và quân dụng. Chiến thắng này không chỉ làm thay đổi cục diện tại địa bàn mà còn góp phần làm lung lay kế hoạch của thực dân Pháp, tạo đà cho các chiến thắng lớn sau này, trong đó có Điện Biên Phủ.
Chúng tôi ngồi lặng, lòng dâng trào niềm biết ơn sâu sắc. Qua lời kể của vị Đại tá, bạn nhận ra chiến tranh là những gian khổ tột cùng, là máu xương và tuổi trẻ phải hy sinh, là những bữa cơm bỏ dở, những người bạn chiến đấu ngã xuống chỉ cách nhau vài mét. Hòa bình hôm nay không phải tự nhiên mà có. Nó được đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt và xương máu của biết bao thế hệ cha anh, trong đó có vị Đại tá đang ngồi trước mặt bạn.
Hôm nay, khi được sống trong không khí yên bình, được học tập tự do và xây dựng đất nước, chúng ta càng thấm thía giá trị của hòa bình. Chúng tôi hiểu rằng trách nhiệm của thế hệ trẻ là phải nỗ lực học tập, rèn luyện, gìn giữ và bảo vệ thành quả mà ông cha đã đổ biết bao hy sinh để có được. Không để chiến tranh và đau thương quay trở lại.
Nhìn vị Đại tá già với ánh mắt vẫn còn ánh lên ngọn lửa năm xưa, chúng ta cần phải sống sao cho xứng đáng với những gì thế hệ ông đã trao lại.



