Đại tá Lý Quang Cấn
Đại tá Lý Quang Cấn rót ra hai chén rượu, một chén cho ông và một chén cho tôi và nói: Rượu ngô của người Mông Bắc Hà quê tôi đấy. Cái lý của người Mông là lấy chén rượu thay trà mời khách đến nhà chơi. Điều này thì tôi không bao giờ quên... Hơn bốn mươi năm trong đời quân nhân, thêm 10 năm làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh (CCB) tỉnh, bây giờ đã ngoài tuổi thất thập rồi, mang trên vai quân hàm Đại tá, vậy mà ông vẫn khiêm tốn bảo: Chuyện đời mình có gì đâu mà kể...
Mọi người đều nghĩ sau hơn 40 năm cống hiến, người lính ấy đã có thể yên tâm về quê an dưỡng tuổi già. Nhưng không. Mang trong mình bầu nhiệt huyết của "Bộ đội Cụ Hồ", như cánh chim bay cả ngàn dặm không mệt mỏi, chỉ hai năm sau khi có quyết định nghỉ hưu, được Đảng tin cậy, đồng đội tín nhiệm, nên dù tuổi đã cao ông vẫn vui vẻ đứng ra đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh với bộn bề công việc. Và người lính ấy đã có 10 năm gắn bó với công tác CCB. Khi được hỏi điều gì làm ông vui nhất sau ngần ấy năm, ông trả lời ngay, đơn giản, dứt khoát: Một là xóa được 7 xã khó khăn chưa có tổ chức hội CCB: Nậm Đét, Bản Già, Lùng Cải, Nậm Khánh, Hoàng Thu Phố (Bắc Hà) và Nậm Chạc, Pa Cheo (Bát Xát), góp phần xây dựng tổ chức hội ở cả 164 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh; Hai là tổ chức được Hội CCB khối doanh nghiệp tư nhân, từ đó làm cho anh em CCB thêm phấn khởi, tự hào; Ba là hai nhiệm kỳ qua có nhiều CCB gương mẫu đã được Đảng tín nhiệm, giữ các chức vụ quan trọng ở địa phương, nhất là cấp cơ sở; Bốn là qua việc xây dựng quỹ của hội, quỹ "Nghĩa tình đồng đội", hằng năm đã giúp nhiều CCB xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống, động viên kịp thời các CCB có hoàn cảnh khó khăn, tỷ lệ hộ CCB nghèo hiện nay chỉ chiếm hơn 15% tổng số hội viên; Qua các phong trào thi đua, chất lượng hội viên ngày càng nâng lên, mỗi năm có thêm nhiều CCB gương mẫu, xứng danh "Bộ đội Cụ Hồ". Nhưng đó là thành tích chung của tất cả anh em, chứ mình có làm được gì đâu...
Trong câu chuyện với người Đại tá, điều làm tôi xúc động nhất đó là khi ông kể về quê hương, gia đình và tuổi thơ trong nghèo khó của mình... Bản Luông, xã Tà Chải nằm dưới chân núi Pu Giêng (còn gọi là núi Ba mẹ con). Tuy ở trung tâm huyện Bắc Hà, nhưng cách đây hơn 70 năm nơi đây chỉ vẻn vẹn hơn chục nóc nhà. Ngôi nhà trình tường nơi cậu bé Lý Quang Cấn sinh ra nằm trên đỉnh đồi cao hơn hẳn các nhà khác, nên sáng nào cũng được đón mặt trời mọc sớm nhất. Lý Quang Cấn bất hạnh hơn những đứa trẻ khác cùng bản, vì năm mới 10 tuổi, cha đã hy sinh trong một trận chiến đấu với bọn phỉ. Nhà nghèo nên đến 11 tuổi, Lý Quang Cấn mới được đi học lớp 1. Học hết lớp 4 thì phải ở nhà lao động vì mẹ tuổi đã cao, em lại còn nhỏ, chẳng có ai lên nương cày cuốc, trồng ngô, trồng lúa. Năm 17 tuổi, thương mẹ già phải ở trong căn nhà dột nát, ròng rã mấy tháng trời, hôm nào Lý Quang Cấn cũng một mình xách dao vào rừng chặt gỗ, kéo về tự đục đẽo rồi nhờ bạn bè giúp đỡ dựng lên căn nhà trình tường mới trước sự trầm trồ thán phục của mọi người...
Ngày ấy, phong trào dân quân, du kích đốt lên ngọn lửa rừng rực khắp nơi, Lý Quang Cấn vinh dự được đầu quân vào đội du kích xã tham gia bảo vệ quê hương. Vì nhanh nhẹn, hoạt bát như con sóc, lại gan dạ, thông thạo địa hình núi non Bắc Hà như trong lòng bàn tay, nên mỗi khi bộ đội bắt được tên phỉ nào cần áp giải đi xa, Lý Quang Cấn thường được giao nhiệm vụ dẫn đường cho bộ đội. Có lần áp giải phỉ lên núi vào tận làng Lý, xã Bản Già tìm kho vũ khí chúng nói cất giấu trong hang sâu; có khi dẫn giải tội phạm từ Bắc Hà đi bộ hơn ba chục cây số đường rừng xuống Bảo Nhai rồi ra tận Phố Lu... Nhiệt tình trong mọi việc, không nề hà gian khổ, Lý Quang Cấn là một trong số ít thanh niên người dân tộc thiểu số Bắc Hà vinh dự được đứng trong hàng ngũ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh năm 19 tuổi. Ngày chàng trai Mông của Bản Luông xung phong nhập ngũ, anh được các cô gái Tày xinh đẹp nhất Bắc Hà dắt ngựa cho. Không nỡ nhìn những giọt nước mắt lăn trên gò má nhăn nheo của mẹ, anh lặng lẽ lên đường...
Khi nghe tôi hỏi: Hơn 40 năm trong quân ngũ, khoảng thời gian nào Đại tá có nhiều kỷ niệm nhất? Ông Lý Quang Cấn trầm tư rót thêm một chén rượu. Chén này ông nói để mời những đồng đội của mình là bộ đội tình nguyện Việt Nam và bộ đội Pathet bên tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) những năm đầu thập niên 70 mà bây giờ người mất, người còn. Ánh mắt người lính già hướng về xa xăm nhòa dần vào ký ức... Năm 1970 - 1971, đội quân của tướng phỉ khét tiếng Vàng Pao bị bộ đội Pathet Lào đánh bại ở thị xã Xiêng Khoảng, phải rút vào khu căn cứ Long Chẹng cố thủ. Đang là chính trị viên đại đội địa phương ở Lào Cai, Lý Quang Cấn được cấp trên cử sang nước bạn Lào làm chuyên gia quân sự, cùng với một đại đội tỉnh Xiêng Khoảng và một trung đội du kích Noọng Hét có nhiệm vụ luồn sâu vào vùng địch hậu làm công tác dân vận. Có đêm dừng chân nghỉ tại một đơn vị quân tình nguyện Việt Nam mà phần lớn là người Lào Cai, nghe họ nói chuyện về những đổi thay của quê hương, lòng ông cuộn trào lên nỗi nhớ nhà. Song vì phải giữ gìn tuyệt đối bí mật, ông không dám nói bằng tiếng Việt mà chỉ lắc đầu cười: Bố chắc! (không biết). Là người Mông nên ông có thể giao tiếp với nhân dân bản địa, được bà con rất tin tưởng, quý mến. Ba năm trên đất Lào, đồng cam cộng khổ với anh em chiến sỹ cách mạng Lào, ông càng hiểu rõ hơn nghĩa tình đồng đội thủy chung, son sắt. Làm sao có thể quên được những phen giáp mặt lính phỉ, sống chết chỉ trong gang tấc, hay những đêm nằm rừng trằn trọc không ngủ được vì nhớ Bắc Hà, Lào Cai, nhớ đồng đội, nhớ người vợ trẻ đang bồng con nhỏ... Năm 1973, từ cánh đồng Chum, tỉnh Xiêng Khoảng trở về, Lý Quang Cấn mới biết có người ở quê nhà tưởng anh đã hy sinh, vợ anh khóc thầm đến cạn nước mắt, thấy anh về bằng xương bằng thịt, cứ ngỡ như mơ, mừng mừng, tủi tủi.
Lý Quang Cấn sinh ra ở Bắc Hà, nặng tình với mảnh đất này, con đường binh nghiệp đã đưa chân ông đến nhiều vùng đất, nhưng rồi như có sợi dây vô hình níu giữ, ông cứ trở đi trở lại Bắc Hà. Đó là năm 1963, ông về Ban Chỉ huy Quân sự huyện Bắc Hà làm cán sự, 25 tuổi được kết nạp Đảng, trở thành Chính trị viên phó Huyện đội Bắc Hà. Suốt những năm tháng tiếp theo, ông từng nhận nhiệm vụ ở nhiều nơi, nhưng rồi hai lần nữa lại quay trở về làm Chính trị viên Huyện đội Bắc Hà, đó là các năm 1973 và 1976. Năm 1991, khi tỉnh Lào Cai được tái lập, ông giữ chức Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh cho đến năm 2000 về nghỉ hưu. Với Đại tá Lý Quang Cấn, điều làm ông hạnh phúc nhất đó là đi đến đâu ông cũng nhận được sự tin yêu của nhân dân, sự quý mến chân thành của anh em đồng đội. Chỉ hai chữ "Thủ trưởng" thôi mà chứa đựng biết bao nghĩa tình đồng đội...
Mỗi lần Đại tá Lý Quang Cấn đi dự hội nghị, bà Thào Thị Váng đều cẩn thận chỉnh trang lại quần áo cho ông, đeo lên ngực ông lấp lánh Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Hai Huân chương Chiến công hạng Nhất; Ba Huân chương Chiến sỹ Vẻ vang; rồi Huân chương Lao động hạng Ba... Ông nói vui: Những huân chương này đều là của bà tất đấy! Bà Váng cười: Tôi làm gì được vinh dự ấy, chỉ làm được một việc là mong ông khỏe mạnh để làm tốt công tác bộ đội thôi... Bao năm qua, ông vẫn thầm cảm ơn người vợ hiền đã tần tảo chăm sóc gia đình, nuôi các con khôn lớn khi ông đi biền biệt làm nhiệm vụ. Nhưng ông biết, bà hiểu và ủng hộ ông, luôn lo lắng cho ông, đó đã là phần thưởng lớn lắm rồi...



