Đại tá Nguyễn Văn Tàu: Cuốn lịch sử sống gửi trao thế hệ mai sau
Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tàu (bí danh Tư Cang) là nhà tình báo chiến lược của Quân đội nhân dân Việt Nam, một huyền thoại thầm lặng và là cuốn lịch sử sống lưu giữ ký ức chân thực về những năm tháng chiến tranh gian khổ mà hào hùng của dân tộc. Bài viết tổng hợp toàn bộ cuộc đời, hành trình cách mạng kiên cường, những chiến công ẩn mình cũng như các hoạt động nghĩa tình, viết lách truyền lửa cho thế hệ trẻ thời bình của ông.


Đại tá - AHLLVTND Nguyễn Văn Tàu - “huyền thoại” sống của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ảnh: Vĩnh Hy.
I. Cuộc đời và quá trình hoạt động cách mạng
1. Xuất thân và những năm đầu tham gia kháng chiến
Nguyễn Văn Tàu sinh ngày 30 tháng 10 năm 1928 tại xã Long Phước, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ). Sinh ra trong bối cảnh đất nước bị xâm lược, từ rất sớm, ông đã mang trong mình lòng yêu nước và ý chí đấu tranh.
Năm 17 tuổi, ông cùng nhân dân cầm tầm vông đứng lên giành chính quyền.
Đến năm 19 tuổi, tức tháng 4 năm 1947, ông thoát ly gia đình, theo Việt Minh chính thức tham gia cách mạng tại quê hương Long Phước, để lại người vợ trẻ đang mang thai.
Trong giai đoạn 1947–1954, ông là chiến sĩ quân báo kiêm làm công tác binh vận của Việt Minh ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Nhận thấy phẩm chất kiên trung, mưu trí của ông, tổ chức đã giao cho ông hoạt động tình báo bí mật tại Sài Gòn – một nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm với công việc cụ thể là xây dựng cơ sở lòng dân và thu thập tin tức tình báo về các đồn bốt, di biến động của quân đội Pháp để phục vụ tác chiến.

Đại tá Nguyễn Văn Tàu lúc trẻ, thời điểm tham gia cách mạng. Ảnh: Tư Liệu
2. Tập kết ra Bắc và nhiệm vụ tại Sư đoàn 338
Sau Hiệp định Geneva năm 1954, ông tập kết ra Bắc và được điều vào ngành tình báo. Để giữ bí mật cho gia đình ở miền Nam, ông sử dụng bí danh là Trần Văn Quang. Tại đây, ông giữ chức vụ trung đội trưởng trinh sát kiêm chính trị viên đại đội đặc công thuộc Sư đoàn 338.
3. Trở lại chiến trường miền Nam và quá trình chỉ huy Cụm tình báo H.63
Đầu năm 1961, cụm tình báo quân sự A18 (tiền thân của Cụm H.63) ra đời tại căn cứ Bời Lời, Tây Ninh nhằm phục vụ, bảo vệ và chuyển giao tài liệu cho điệp viên chiến lược Hai Trung (X6 – Phạm Xuân Ẩn). Thời kỳ đầu, mạng lưới này thuộc bộ phận địch tình của Thành ủy Sài Gòn. Khi điệp viên Phạm Xuân Ẩn từ Mỹ trở về hoạt động giữa Sài Gòn dưới danh nghĩa phóng viên báo chí nước ngoài, ông Mười Nho (Xuân Mạnh, Nguyễn Nho Quý – cán bộ Cục Tình báo) là người trực tiếp chỉ huy cụm.
Cuối năm 1961, ông Nguyễn Văn Tàu trở lại hoạt động tại chiến trường miền Nam.
Năm 1962, tại chiến khu Dương Minh Châu, do ông Mười Nho bị bệnh nặng phải chuyển vùng điều trị, ông Ba Trần (Thủ trưởng Phòng Tình báo Miền - J22) đã tin tưởng lựa chọn và chính thức giao nhiệm vụ Cụm trưởng Cụm H.63 cho ông Tư Cang để trực tiếp chỉ huy cụm và phục vụ hoạt động của điệp viên chiến lược Phạm Xuân Ẩn.
Trong điều kiện hoạt động bí mật, ông nhiều lần vào nội đô Sài Gòn đối mặt hiểm nguy, luôn sẵn sàng hy sinh. Khi vào nội thành hoạt động bí mật, ông sử dụng căn cước mang tên Trần Văn Trung, danh nghĩa làm gia sư để dễ dàng ẩn mình. Dưới sự chỉ huy mưu trí của ông, Cụm H.63 đã bảo vệ tuyệt đối an toàn cho mạng lưới tình báo nội đô.
Với những chiến công đặc biệt xuất sắc này, Cụm H.63 đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 1971. Nhiều cá nhân tiêu biểu trong cụm cũng lần lượt được vinh danh Anh hùng như: Tư Cang, Hai Trung (Phạm Xuân Ẩn), Tám Thảo, Nguyễn Thị Ba.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
4. Cống hiến trong giai đoạn 1968 - 1975 và Chiến dịch Hồ Chí Minh
Sau Tết Mậu Thân 1968, ông đảm nhiệm chức vụ Phó Chính ủy Phòng Tình báo Miền.
Tháng 11 năm 1973, với quân hàm Trung tá, ông Tư Cang nằm trong nhóm 20 sĩ quan cấp tá của Bộ Tư lệnh Miền được điều động ra Bắc học tập chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược. Ông được cử vào học lớp bổ túc Chính ủy Sư đoàn tại Học viện Chính trị Quân sự.
Đầu năm 1975, ông cắt ngắn khóa học trở lại miền Nam, giữ chức vụ Chính ủy cánh Bắc thuộc Lữ đoàn Đặc công Biệt động 316.
Trong Mùa Xuân 1975 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đơn vị của ông được giao nhiệm vụ tiến công các mục tiêu trọng yếu, giữ các cây cầu chiến lược, mở đường cho lực lượng chủ lực tiến vào Sài Gòn. Cụ thể, đơn vị trực tiếp chỉ huy mũi tấn công đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy, đồng thời đánh chiếm và giữ vững cầu Rạch Chiếc ở cửa ngõ phía Đông. Trận giữ cầu Rạch Chiếc là một dấu ấn bi tráng khi đơn vị chịu nhiều tổn thất, 52 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh nhưng vẫn giữ vững trận địa, bảo đảm cho chiến dịch diễn ra đúng kế hoạch. Đó là ký ức không thể nào quên đối với người chỉ huy.
Vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975, trên cương vị Chính ủy cánh Bắc Lữ đoàn 316, ông cùng ban chỉ huy đã xây dựng phương án hiệp đồng tác chiến quân binh chủng, sẵn sàng các tọa độ pháo kích chế áp các trận địa hỏa lực địch và các mục tiêu quân sự đầu não của đối phương tại vùng ven cửa ngõ Sài Gòn, phòng trường hợp chính quyền Dương Văn Minh ngoan cố không chịu đầu hàng quân giải phóng.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 - dấu mốc thiêng liêng khi đất nước hoàn toàn giải phóng, giữa giờ phút lịch sử, điều ông nghĩ đến đầu tiên là gia đình. Khoảnh khắc ấy khép lại cuộc đời ẩn của một chiến sĩ tình báo, đánh dấu sự trở về của người lính sau những năm tháng cống hiến thầm lặng.

Ông Tư Cang (hàng trên, thứ 2 từ phải qua) trong buổi mít-tinh mừng ngày toàn thắng 30-4-1975 trước dinh.
II. Hoạt động sau năm 1975, những cống hiến thời bình và vinh danh
1. Nhiệm vụ quốc tế và đóng góp trong thời bình

Đại tá Nguyễn Văn Tàu trong ngày họp mặt kỷ niệm Phòng Tình Báo Miền. Ảnh: Vĩnh Hy.
Sau năm 1975, ông tiếp tục chỉ huy Lữ đoàn 316 làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia. Do thương tích chiến tranh, ông phải rời xa chiến trường với tỷ lệ thương tật 2/4. Dẫu vậy, tinh thần người lính trong ông vẫn vẹn nguyên, ở bất cứ cương vị nào ông cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ, giữ trọn phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.
Khi nghỉ hưu, ông tiếp tục đóng góp bằng con đường viết lách để tái hiện chân thực một thời khói lửa. Nhiều tác phẩm của ông đã ra đời như: Tình báo kể chuyện, Sài Gòn Mậu Thân 1968, Trái tim người lính, Hoàng hôn trên chiến trường, Bến Dược vùng đất lửa, Nước mắt ngày gặp mặt... Ông chia sẻ rằng mình viết để kể lại không chỉ cuộc đời mình mà còn là ký ức của đồng đội, của cả dân tộc, để thế hệ trẻ hiểu hơn giá trị của độc lập, hòa bình – những điều được đánh đổi bằng máu xương.
Bên cạnh việc viết sách, ông còn thường xuyên gặp gỡ, nói chuyện với học sinh, sinh viên, kể lại những năm tháng chiến đấu nhằm góp phần bồi đắp lòng yêu nước, trách nhiệm công dân và truyền lửa cho thế hệ mai sau. Cùng với đó, ông tích cực tham gia các hoạt động nghĩa tình, giúp đỡ đồng chí, đồng đội gặp khó khăn.
2. Sự vinh danh và giá trị biểu tượng

Lễ trao tặng danh hiệu AHLLVTND cho nhà tình báo Tư Cang (3/2006). Ảnh: Tư liệu
Với những cống hiến đặc biệt xuất sắc cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, năm 2006, Đại tá Nguyễn Văn Tàu đã được Nhà nước chính thức phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Trải qua gần trọn một thế kỷ, ở tuổi 98, ông vẫn minh mẫn, nhớ rõ từng thời khắc của cuộc kháng chiến trường kỳ, đặc biệt là ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ký ức chiến tranh trong ông vẫn vẹn nguyên. Ông thấu hiểu sâu sắc giá trị của độc lập, hòa bình và thực sự là một cuốn lịch sử sống – nơi lưu giữ ký ức chân thực về những năm tháng chiến tranh gian khổ mà hào hùng của dân tộc, như một nhịp cầu nối quá khứ với hiện tại.

Tuổi 98, ông Tư Cang vẫn thường ngồi kể lại những năm tháng lịch sử và dặn dò thế hệ trẻ về lòng yêu nước. Ảnh: Vĩnh Hy.
Ông nhắn nhủ tới thế hệ trẻ: Từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập đến nay, nhiều thế hệ đã hy sinh vì Tổ quốc. Vì vậy, lớp trẻ cần trân trọng, gìn giữ và phát huy thành quả ấy; ra sức học tập, rèn luyện, góp phần xây dựng đất nước.
Theo ông, lịch sử là nền tảng để mỗi người nuôi dưỡng niềm tự hào dân tộc và vững bước đi tới tương lai.



