Đại Thắng Minh Hoàng đế ĐINH TIÊN HOÀNG
ĐINH TIÊN HOÀNG ĐẾ
Đinh Tiên Hoàng chính tên là Đinh Bộ Lĩnh. Ông sinh ngày rằm tháng hai năm Giáp Thân (tức ngày 22-3-924) tại thôn Kim Lư, làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng (nay là thôn Vân Bòng, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình).
Khoảng đầu những năm Sáu mươi của thế kỷ X, lúc bấy giờ trong nước loạn lạc, sử gọi là loạn Thập nhị sứ quân. Nhờ thông minh, có khí phách, lại có tài thao lược, Đinh Bộ Lĩnh dựng cờ dấy nghĩa vào cuối năm 967. Chỉ trong khoảng hơn một năm, dẹp yên các sứ quân, bốn phương ca khúc khải hoàn, non sông thu về một mối, chấm dứt thời kỳ loạn mười hai sứ quân kéo dài hơn hai mươi năm trời.
Năm Mậu Thìn (968) Vạn Thắng Vương lên ngôi Hoàng đế, hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt (nước Việt to lớn), đóng đô ở Hoa Lư, dựng cung điện, đặt triều nghi, “định trăm quan, đặt sáu quân, chế độ gần đủ”(toàn thư). Nước Nam ta được chính thống kể từ đây.
Năm Kỷ Mão (979), vua Đinh và con trưởng là Nam Việt Vương Đinh Liễn bị hậu cận, chức Chi hậu nội nhân là Đỗ Thích sát hại. Đại thắng Minh Hoàng đế mất, được triều thần tôn là Tiên Hoàng đế, linh cữu táng ở Sơn Lăng - Núi Mã Yên. Đền thờ ông cũng được dựng ngay dưới chân núi Mã Yên ở Trường Yên, Hoa Lư, trên nền cung điện cũ.
Năm Mậu Thìn (968) Vạn Thắng Vương lên ngôi Hoàng đế, hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt (nước Việt to lớn), đóng đô ở Hoa Lư, dựng cung điện, đặt triều nghi, “định trăm quan, đặt sáu quân, chế độ gần đủ”(toàn thư). Nước Nam ta được chính thống kể từ đây.
Năm Kỷ Mão (979), vua Đinh và con trưởng là Nam Việt Vương Đinh Liễn bị hậu cận, chức Chi hậu nội nhân là Đỗ Thích sát hại. Đại thắng Minh Hoàng đế mất, được triều thần tôn là Tiên Hoàng đế, linh cữu táng ở Sơn Lăng - Núi Mã Yên. Đền thờ ông cũng được dựng ngay dưới chân núi Mã Yên ở Trường Yên, Hoa Lư, trên nền cung điện cũ.



