Đại tướng Đoàn Khuê - Nhà chính trị, quân sự song toàn
Trong chặng đường 60 năm hoạt động cách mạng (1939-1999), đồng chí đã đảm nhiệm nhiều cương vị và có mặt ở nhiều vùng miền, địa phương, chiến trường khác nhau; trong đó, có hơn 40 năm gắn bó với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và làm nghĩa vụ quốc tế cao cả.
Dù ở cương vị nào, đồng chí cũng luôn đem hết sức mình cống hiến cho Đảng, cho nhân dân; đặt lợi ích của cách mạng, của nhân dân lên trên hết, phấn đấu hy sinh vì sự nghiệp cách mạng; luôn trau dồi kiến thức, sâu sát cơ sở, giữ vững tính đảng... là tấm gương sáng về phẩm chất của người cán bộ cách mạng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, để lại tấm gương tốt đẹp là một nhà chính trị, quân sự xuất sắc.
Người cán bộ chính trị mẫu mực, phong cách dân chủ, sâu sát thực tiễn
Sớm giác ngộ cách mạng, năm 1939, khi 16 tuổi, đồng chí Đoàn Khuê tham gia phong trào thanh niên phản đế ở phủ Triệu Phong; năm 1940, bị địch bắt và kết án tù, giam ở nhà lao Quảng Trị, rồi bị đưa đến nhà đày Buôn Ma Thuột. Trong thời gian hơn 5 năm bị giam giữ, đày ải, tra tấn tàn bạo, đồng chí Đoàn Khuê luôn thể hiện chí khí kiên cường, không chịu khuất phục, một lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng.
Tháng 5/1945, sau khi thoát khỏi nhà tù, đồng chí tiếp tục trở về hoạt động gây cơ sở ở Quảng Bình; sau đó được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) và được cử làm Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh tỉnh. Đồng chí Đoàn Khuê đã tích cực xây dựng lực lượng, tham gia chỉ đạo nhân dân đứng lên giành chính quyền cách mạng ở Quảng Bình.
Khi thực dân Pháp trở lại gây hấn, xâm lược ở Sài Gòn, đồng chí Đoàn Khuê lúc này là Ủy viên Quân sự của Ủy ban Quân chính Khu C (gồm lực lượng vũ trang (LLVT) Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam) được giao nhiệm vụ chỉ huy một đơn vị hoạt động ở địa bàn Khu 5; sau đó lần lượt được cử giữ các chức vụ: Chính trị viên, Bí thư Hiệu ủy Trường Lục quân trung học Quảng Ngãi; Chính trị viên, Bí thư Trung đoàn ủy các Trung đoàn 69, 73, 78 và 126.
Đặc biệt, trong thời gian từ năm 1948 đến 1954, trên cương vị Chính ủy, Bí thư Trung đoàn ủy Trung đoàn 84 và Trung đoàn 108-đơn vị chủ lực cơ động đầu tiên của Liên khu 5 trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đồng chí Đoàn Khuê đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng.
Với tác phong gương mẫu, phong cách dân chủ, sâu sát thực tiễn, trong quá trình kiện toàn tổ chức, biên chế lực lượng của đơn vị, đồng chí chú ý sắp xếp xen kẽ các đồng chí dân tộc Kinh với các đồng chí dân tộc thiểu số ở các đội vũ trang tuyên truyền và đại đội độc lập, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tuyên truyền, xây dựng cơ sở ở các vùng đồng bào dân tộc. Đồng thời, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng chính trị, ý chí quyết tâm chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ, tăng cường đội ngũ đảng viên cho những đơn vị trực tiếp chiến đấu và hoạt động ở vùng sâu; lấy công tác dân vận làm trung tâm xây dựng cơ sở vùng địch hậu...
Trong thời gian này, bằng kiến thức và kinh nghiệm phong phú, sâu sát thực tiễn, đồng chí Đoàn Khuê đã trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và có nhiều đóng góp trong xây dựng, củng cố đơn vị, không ngừng nâng cao chất lượng chính trị và sức chiến đấu của các trung đoàn; đồng thời, cùng với tập thể cấp ủy và chỉ huy các trung đoàn vừa xây dựng, vừa chiến đấu, góp phần cùng với LLVT Khu 5 tổ chức nhiều trận đánh tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, củng cố và giữ vững vùng tự do “Nam-Ngãi-Bình-Phú”, hậu phương kháng chiến trực tiếp của Nam Trung Bộ.
Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, đồng chí Đoàn Khuê lần lượt giữ các chức vụ: Phó chính ủy Đại đoàn 305, Chính ủy Lữ đoàn Pháo binh 675, Chính ủy Sư đoàn 351. Tháng 3/1958, trước âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm tìm mọi cách phá hoại hiệp thương, tổng tuyển cử, hòng chia cắt lâu dài đất nước ta, đồng chí Đoàn Khuê được điều ra Quân khu 4 làm Ủy viên Đảng ủy Quân khu và giữ chức Chính ủy, Bí thư Lữ đoàn ủy Lữ đoàn 341, đảm nhiệm phòng thủ tại giới tuyến quân sự tạm thời. Với nhãn quan chính trị sắc sảo, đồng chí đã nhanh chóng nắm bắt tình hình, chỉ đạo đơn vị tiến hành xây dựng cơ sở, tạo thế cho nhân dân trong đấu tranh chính trị, sẵn sàng đánh bại âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ. Bằng hành động gương mẫu, tác phong sâu sát, đồng chí đã trực tiếp có mặt ở những nơi khó khăn, gian khổ, kịp thời động viên cán bộ, chiến sĩ thực hiện tốt “ba cùng” với nhân dân, được nhân dân quý mến, yêu thương chăm sóc; vì vậy, Lữ đoàn 341 nhanh chóng trở thành một trong những đơn vị thường xuyên chiến đấu giỏi của Quân khu 4.
Tháng 10/1960, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Phó chính ủy Quân khu 4. Trên cương vị mới, đồng chí luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, tác phong sâu sát, tỉ mỉ, không ngừng nghiên cứu, tìm ra các biện pháp phù hợp, cùng tập thể Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 4 tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, chấn chỉnh tổ chức biên chế, xây dựng LLVT ba thứ quân vững mạnh, xây dựng thế trận ngày càng vững chắc, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của các đơn vị, đẩy mạnh hoạt động tác chiến, giành nhiều thắng lợi to lớn trên chiến trường Quân khu 4.
Từ cuối năm 1962, trên địa bàn Khu 5, Mỹ-Diệm cơ bản lập xong “ấp chiến lược” trong các vùng chúng kiểm soát ở đồng bằng và tiến hành đánh phá ác liệt vùng tranh chấp, làm cho cuộc đấu tranh của quân và dân ta chống phá âm mưu gom dân lập “ấp chiến lược” của địch trở nên quyết liệt. Trước tình hình đó, đồng chí Đoàn Khuê được điều động vào chiến trường Khu 5 giữ chức Phó chính ủy Quân khu, trực tiếp chỉ đạo LLVT tiến hành các hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị ở chiến trường trọng điểm này. Trong suốt quá trình gắn bó với chiến trường Khu 5 (1963-1975), đồng chí Đoàn Khuê luôn kiên định với đường lối lãnh đạo của Đảng, tập trung giải quyết những yêu cầu, nhiệm vụ cấp thiết của cách mạng, chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, khơi dậy lòng yêu nước, truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, nêu cao ý thức tự lực, tự cường, xây dựng ý chí quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược cho quân và dân Khu 5.
Đặc biệt, sau khi Hiệp định Paris được ký kết (27/1/1973), một số đơn vị có biểu hiện chủ quan, ảo tưởng, mất cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn thâm độc của địch, đồng chí Đoàn Khuê đã kịp thời nắm bắt tình hình và chỉ đạo, yêu cầu các cấp ủy phải nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng của Đảng, chống ảo tưởng, mất cảnh giác, lỏng lẻo, thiếu ý chí chiến đấu; đồng thời, tích cực đề ra nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị tiếp tục đấu tranh chống phá địch lấn chiếm bình định, giữ vững vùng giải phóng và xây dựng lực lượng tiếp tục chiến đấu, giành thắng lợi to lớn hơn.
Với tác phong gương mẫu, phong cách làm việc dân chủ, sâu sát thực tiễn, trước mỗi chiến dịch, trận đánh, đồng chí thường trực tiếp xuống các đơn vị phổ biến kế hoạch, tổ chức thực hiện dân chủ quân sự sâu rộng để xác định đúng đắn trách nhiệm của từng đơn vị và cá nhân trong chiến đấu. Qua thực tiễn chỉ đạo chiến đấu giành thắng lợi ở Khu 5, đồng chí đã đúc kết tư tưởng chỉ đạo phong trào đánh Mỹ với những nét tiêu biểu: “Muốn thắng Mỹ là phải phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nêu cao tinh thần đánh Mỹ, kiên định quyết tâm đánh Mỹ, thắng Mỹ đến cùng là yếu tố quyết định của mọi thắng lợi”.
Sau ngày đất nước thống nhất, là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Quân đội, đồng chí vẫn thường xuyên đến thăm các đơn vị từ các tỉnh địa đầu phía Bắc, cho đến các tỉnh tận cùng phía Nam và có mặt ở hầu hết các đảo quan trọng của nước ta trên Biển Đông, cũng như các vùng biên ải xa xôi của Tổ quốc để thấu hiểu và kịp thời động viên, chỉ đạo giải quyết nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện nhiệm vụ.
Xuất thân từ cán bộ chính trị và dành thời gian dài cho hoạt động chỉ đạo công tác Đảng, công tác chính trị, đồng chí Đoàn Khuê là một trong những cán bộ chính trị xuất sắc của QĐND Việt Nam, có phong cách làm việc dân chủ, sâu sát thực tiễn, luôn có mặt ở những chiến trường trọng điểm, kịp thời động viên, phát huy sức mạnh chính trị tinh thần của bộ đội, khắc phục khó khăn, nêu cao quyết tâm, hoàn thành các nhiệm vụ.
Vị tướng mưu lược, người chỉ huy tài giỏi trên các chiến trường trọng điểm
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), đồng chí Đoàn Khuê được Đảng, Quân đội giao nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ huy các trung đoàn chiến đấu chủ yếu ở chiến trường Liên khu 5. Đây là những đơn vị phần lớn phải hoạt động trên các địa bàn ác liệt, khó khăn, trọng điểm đánh phá của thực dân Pháp. Đồng chí Đoàn Khuê đã cùng ban chỉ huy các trung đoàn đẩy mạnh kết hợp công tác chính trị và quân sự; kịp thời chỉ đạo các trung đoàn tổ chức các khóa huấn luyện cấp tốc, đào tạo cán bộ tiểu đội, trung đội dân quân, du kích... góp phần rèn luyện, xây dựng đội ngũ này ngày càng phát triển, đáp ứng yêu cầu tác chiến trên địa bàn. Đồng thời, đồng chí cùng với ban chỉ huy các trung đoàn chỉ huy đơn vị đánh thắng nhiều cuộc hành quân càn quét của địch, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch.
Một trong những dấu ấn của đồng chí Đoàn Khuê ở chiến trường Liên khu 5 trong kháng chiến chống thực dân Pháp là chỉ đạo, chỉ huy Trung đoàn 108 tiến công tiêu diệt Măng Đen-cứ điểm then chốt trong tuyến phòng thủ của thực dân Pháp ở Bắc Tây Nguyên (ngày 27 và 28/1/1954).
Đây là trận công kiên gặp nhiều khó khăn, song với tác phong sâu sát và tài năng chính trị, quân sự song toàn, đồng chí đã trực tiếp có mặt ở những nơi khó khăn, ác liệt nhất để nắm tình hình, động viên bộ đội và cùng Ban chỉ huy Trung đoàn quyết định chuyển hướng thứ yếu thành hướng chủ yếu. Đó là một quyết định táo bạo, nhưng chính xác, kịp thời, gây ra bất ngờ cho quân địch, làm cho chúng không kịp trở tay và phải chịu thất bại. Tên tuổi đồng chí Đoàn Khuê-Chính ủy Trung đoàn 108 đã gắn liền với chiến thắng Măng Đen trong thời kỳ chống Pháp.
Đầu năm 1963, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt, Khu 5 trở thành trọng điểm địch đánh phá ác liệt, có vùng “trắng đất, trắng dân”. Trước tình hình đó, đồng chí Đoàn Khuê được điều động từ Quân khu 4 vào chiến trường Khu 5 và gắn bó với chiến trường này cho đến ngày đất nước thống nhất. Trong thời gian ở chiến trường Khu 5 ác liệt, đồng chí đảm nhiệm các chức vụ Phó chính ủy Quân khu 5, Phó bí thư Quân khu ủy, Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu 5, Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên.
Bằng tài năng và kinh nghiệm thực tiễn, đồng chí luôn coi trọng công tác giáo dục, động viên sức mạnh chính trị tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ. Trên cơ sở quán triệt đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, đồng chí đã cùng với Quân khu ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 5 lãnh đạo, chỉ đạo LLVT và nhân dân nêu cao quyết tâm, quyết đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược.
Với ý chí quyết tâm cao độ và tài mưu lược, tinh thần dũng cảm, linh hoạt, sáng tạo, đồng chí đã vận dụng đúng phương châm “lấy nhỏ đánh lớn”, “lấy ít địch nhiều”, càng đánh, càng mạnh, góp phần cùng Quân khu ủy và Bộ tư lệnh lãnh đạo, chỉ huy quân và dân Khu 5 giành nhiều thắng lợi to lớn. Các hoạt động quân sự trên địa bàn Khu 5, nhất là Phong trào “Phá ấp chiến lược” những năm 1963-1964, đã góp phần xoay chuyển được cục diện chiến trường, tạo được những điều kiện thuận lợi để đánh thắng địch lớn hơn.



