Anh hùng Lực lượng vũ trang

Đại tướng Lê Đức Anh (1)

99 năm tuổi đời, hơn 80 năm hoạt động cách mạng, được Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân tin cậy giao phó nhiều trọng trách quan trọng, Đại tướng Lê Đức Anh đã đem hết tâm lực và trí tuệ của mình hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Hưng Yên23/12/2025Vũ Thị Ái (Trường TH Hồng An)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Đại tướng Lê Đức Anh (1)

Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Đức Anh sinh ngày 1-12-1920 tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Bí danh: Sáu Nam.

Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất, nhà tan, phải chứng kiến người dân nước ta sống trong cảnh cơ cực, lầm than, đã hun đúc trong đồng chí lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh cách mạng. Khi mới 17 tuổi, đồng chí đã tích cực tham gia hoạt động yêu nước.

Năm 1937, đồng chí Lê Đức Anh được giác ngộ và chính thức tham gia hoạt động cách mạng ở địa phương.

Ngày 1-5-1938, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Từ năm 1939 đến 1944 đồng chí tham gia các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh và tham gia đấu tranh giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí Lê Đức Anh tham gia quân đội.

Từ năm 1946 đến năm 1947, đồng chí tham gia chỉ huy giành chính quyền ở Lộc Ninh, tham gia Tỉnh ủy lâm thời, phụ trách quân sự phía bắc tỉnh Thủ Dầu Một; giữ các chức vụ Chính trị viên Chi đội 1 (sau là Trung đoàn 301), Trung đoàn ủy viên, Tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một.

Từ năm 1948 đến năm 1954, đồng chí đảm đương nhiều chức vụ quan trọng như: Tham mưu trưởng Khu 7, Khu 8, Khu Sài Gòn - Chợ Lớn, Quân khu ủy viên, Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Tham mưu trưởng Phân liên khu miền Đông Nam Bộ.

Năm 1955 - 1962: Phó cục trưởng Cục Tác chiến, Cục trưởng Cục Quân lực, Bộ Tổng Tham mưu.

Năm 1963 - 1964: Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ tháng 2-1964 đến 1968: Tham mưu trưởng, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân Giải phóng miền Nam.

Từ 1969 - 1974: Tư lệnh Quân khu 9.

Từ 1974 - 1975: Phó tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, Phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân Tây Nam đánh vào Sài Gòn.

Tháng 5-1976: Tư lệnh Quân khu 9.

Tháng 6-1978: Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7; Chỉ huy trưởng Cơ quan tiền phương Bộ Quốc phòng ở mặt trận Tây Nam.

Năm 1981: Tư lệnh Quân khu 7; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia; Phó trưởng ban, Trưởng ban lãnh đạo chuyên gia Việt Nam tại Campuchia.

Tháng 12-1986: Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ tháng 2-1987 - 1991: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó bí thư thứ nhất Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương).

Từ 1992 - 1997: Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cuộc đời binh nghiệp của đồng chí Lê Đức Anh bắt đầu từ dấu mốc tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở vùng đất đỏ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) đầy gian khó, đồng chí đã bám sát thực tiễn, vận dụng đúng đắn, sáng tạo quan điểm, đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng vào điều kiện cụ thể của từng địa bàn, theo phương châm dựa vào dân mà chiến đấu, góp phần vào thắng lợi quan trọng của các chiến dịch, đi đến kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Trong giai đoạn năm 1964-1975, trên cương vị là Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh miền Nam, Phó tư lệnh Bộ tư lệnh miền Nam, Tư lệnh Khu 9, Phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân Tây Nam, đồng chí đã trực tiếp tham gia và chỉ huy nhiều chiến dịch lớn, góp phần cùng quân và dân ta giành nhiều thắng lợi có tính chiến lược, góp phần vào thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong cuộc chiến đấu Bảo vệ biên giới Tây Nam, đồng chí là một trong những tướng lĩnh trực tiếp chỉ huy chiến trường và giành nhiều thắng lợi quan trọng, bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng.

Sau khi đất nước hòa bình, thống nhất, đồng chí được Đảng, Nhà nước giao nhiều trọng trách quan trọng. Trên cương vị là người lãnh đạo, chỉ huy cao nhất của Quân đội, đồng chí đã chỉ đạo tập trung kế hoạch điều chỉnh chiến lược, bố trí lại đội hình chiến lược bảo đảm mục tiêu đánh lâu dài, giảm chi phí quốc phòng, phát huy sức mạnh toàn dân, toàn diện, tạo nên sức mạnh phòng thủ đất nước và đủ sức mạnh chống lại mọi tình huống chiến tranh. Với tầm nhìn chiến lược, Đại tướng Lê Đức Anh đặc biệt quan tâm đến công tác tăng cường phòng thủ biển, đảo.

Tháng 9-1992, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa IX, đồng chí được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 1992-1997. Trên cương vị nguyên thủ quốc gia, đồng chí đã cùng Tổng Bí thư Đỗ Mười, Thủ tướng Võ Văn Kiệt và tập thể Bộ Chính trị, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trăn trở, tìm tòi biện pháp, quyết sách đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố an ninh - quốc phòng và mở cửa hội nhập quốc tế; kiên định con đường đổi mới để tiến lên.

Đồng chí là người đề nghị và được Bộ Chính trị chấp nhận việc phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng để tôn vinh và ghi công sự cống hiến của các bà mẹ cho độc lập, tự do của Tổ quốc và giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau.

Ngoài ra, dấu ấn nổi bật của đồng chí Lê Đức Anh phải kể đến là những đóng góp trong lĩnh vực ngoại giao. Thực hiện đường lối Đổi mới, năm 1986, Việt Nam bắt đầu tiến hành bình thường hóa quan hệ với một số nước, trong đó có hai nước lớn là Trung Quốc và Mỹ. Lúc đó, Đại tướng Lê Đức Anh đang giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Sau những trăn trở, tìm tòi, Đại tướng đã tìm ra những bước đi khôn khéo với chiến dịch "Phẫu thuật nụ cười" và "Tìm kiếm người Mỹ mất tích - MIA" - mở ra một cách tiếp cận trong việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Và bước mở đầu đó đã góp phần quan trọng trong việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước vào năm 1995.

Đối với việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, đồng chí cùng Bộ Chính trị đã quyết định bắt đầu công việc bằng hai kênh: Ngoại giao nhân dân và ngoại giao bí mật. Tháng 7-1991, Đại tướng Lê Đức Anh với tư cách là phái viên của Bộ Chính trị sang thăm nội bộ Trung Quốc để bàn bạc những vấn đề cụ thể việc bình thường hóa quan hệ hai nước. Sau khi Đại tướng Lê Đức Anh đi "tiền trạm" về, tháng 11-1991, nhận lời mời của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân và Thủ tướng Quốc vụ Viện Trung Quốc Lý Bằng, đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam do Tổng Bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt dẫn đầu sang thăm chính thức Trung Quốc. Sau lễ đón và hội đàm, hai bên ra Thông cáo chung và ký Hiệp định chính thức bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.


Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn