Anh hùng Lực lượng vũ trang

Đại tướng Lê Đức Anh

99 năm tuổi đời, hơn 80 năm hoạt động cách mạng, được Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân tin cậy giao phó nhiều trọng trách quan trọng, Đại tướng Lê Đức Anh đã đem hết tâm lực và trí tuệ của mình hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Hưng Yên13/12/2025PV Báo QĐND (Báo QĐND)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thân thế và sự nghiệp[1]

Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Đức Anh sinh ngày 1-12-1920 tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Bí danh: Sáu Nam.

Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất, nhà tan, phải chứng kiến người dân nước ta sống trong cảnh cơ cực, lầm than, đã hun đúc trong đồng chí lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh cách mạng. Khi mới 17 tuổi, đồng chí đã tích cực tham gia hoạt động yêu nước.

Năm 1937, đồng chí Lê Đức Anh được giác ngộ và chính thức tham gia hoạt động cách mạng ở địa phương.

Ngày 1-5-1938, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Quá trình công tác[2]

Từ năm 1939 đến 1944 đồng chí tham gia các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh và tham gia đấu tranh giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí Lê Đức Anh tham gia quân đội.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng qua các thời kỳ: Đại tướng Lê Đức AnhPhó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân giải phóng miền Nam Lê Đức Anh tại Bộ tư lệnh miền - khu căn cứ Tà Thiết năm 1966. Ảnh tư liệu

Từ năm 1946 đến năm 1947, đồng chí tham gia chỉ huy giành chính quyền ở Lộc Ninh, tham gia Tỉnh ủy lâm thời, phụ trách quân sự phía bắc tỉnh Thủ Dầu Một; giữ các chức vụ Chính trị viên Chi đội 1 (sau là Trung đoàn 301), Trung đoàn ủy viên, Tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một.

Từ năm 1948 đến năm 1954, đồng chí đảm đương nhiều chức vụ quan trọng như: Tham mưu trưởng Khu 7, Khu 8, Khu Sài Gòn - Chợ Lớn, Quân khu ủy viên, Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Tham mưu trưởng Phân liên khu miền Đông Nam Bộ.

Năm 1955 - 1962: Phó cục trưởng Cục Tác chiến, Cục trưởng Cục Quân lực, Bộ Tổng Tham mưu.

Năm 1963 - 1964: Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ tháng 2-1964 đến 1968: Tham mưu trưởng, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân Giải phóng miền Nam.

Từ 1969 - 1974: Tư lệnh Quân khu 9.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng qua các thời kỳ: Đại tướng Lê Đức AnhTham mưu trưởng Lê Đức Anh (thứ ba, từ trái sang) trong cuộc họp Bộ chỉ huy miền tại căn cứ Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước, năm 1972. Ảnh tư liệu.

Từ 1974 - 1975: Phó tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, Phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân Tây Nam đánh vào Sài Gòn.

Tháng 5-1976: Tư lệnh Quân khu 9.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng qua các thời kỳ: Đại tướng Lê Đức AnhTrung tướng Lê Đức Anh - Tư lệnh Quân khu 9 thăm động viên các chiến sĩ của Tiểu đoàn Tăng - thiết giáp, Quân khu 9, tháng 5-1976. Ảnh tư liệu

Tháng 6-1978: Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7; Chỉ huy trưởng Cơ quan tiền phương Bộ Quốc phòng ở mặt trận Tây Nam.

Năm 1981: Tư lệnh Quân khu 7; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia; Phó trưởng ban, Trưởng ban lãnh đạo chuyên gia Việt Nam tại Campuchia.

Tháng 12-1986: Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng qua các thời kỳ: Đại tướng Lê Đức AnhẢnh trái: Đại tướng Lê Đức Anh, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng kiểm tra tình hình bảo vệ biên giới năm 1987. Ảnh phải: Đại tướng Lê Đức Anh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đi thị sát tại quần đảo Trường Sa, tháng 5-1988. Ảnh tư liệu

Từ tháng 2-1987 - 1991: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó bí thư thứ nhất Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương).

Từ 1992 - 1997: Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng qua các thời kỳ: Đại tướng Lê Đức AnhTừ trái qua phải: Chủ tịch nước Lê Đức Anh với các đại biểu dự Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa IX, từ ngày 19-9 đến 8-10-1992, tại Hội trường Ba Đình (Hà Nội). Chủ tịch nước Lê Đức Anh với đồng bào dân tộc ở Buôn Đôn (Đắk Lắk), ngày 28-9-1996. Chủ tịch nước Lê Đức Anh lên buồng lái máy bay chiến đấu Su-27 trong chuyến thăm Trung đoàn Không quân 937, Quân chủng Phòng không - Không quân, ngày 1-5-1996. Ảnh: TTXVN

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV - VIII; Ủy viên Bộ Chính trị khóa V - VIII; Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII; Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng (12-1997 / 4-2001)

Đại biểu Quốc hội khóa VI, VIII, IX.

Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất...

Những đóng góp nổi bật

Cuộc đời binh nghiệp của đồng chí Lê Đức Anh bắt đầu từ dấu mốc tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở vùng đất đỏ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) đầy gian khó, đồng chí đã bám sát thực tiễn, vận dụng đúng đắn, sáng tạo quan điểm, đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng vào điều kiện cụ thể của từng địa bàn, theo phương châm dựa vào dân mà chiến đấu, góp phần vào thắng lợi quan trọng của các chiến dịch, đi đến kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Trong giai đoạn năm 1964-1975, trên cương vị là Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh miền Nam, Phó tư lệnh Bộ tư lệnh miền Nam, Tư lệnh Khu 9, Phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân Tây Nam, đồng chí đã trực tiếp tham gia và chỉ huy nhiều chiến dịch lớn, góp phần cùng quân và dân ta giành nhiều thắng lợi có tính chiến lược, góp phần vào thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong cuộc chiến đấu Bảo vệ biên giới Tây Nam, đồng chí là một trong những tướng lĩnh trực tiếp chỉ huy chiến trường và giành nhiều thắng lợi quan trọng, bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng qua các thời kỳ: Đại tướng Lê Đức AnhĐại tướng Lê Đức Anh với Báo Quân đội nhân dân.

Sau khi đất nước hòa bình, thống nhất, đồng chí được Đảng, Nhà nước giao nhiều trọng trách quan trọng. Trên cương vị là người lãnh đạo, chỉ huy cao nhất của Quân đội, đồng chí đã chỉ đạo tập trung kế hoạch điều chỉnh chiến lược, bố trí lại đội hình chiến lược bảo đảm mục tiêu đánh lâu dài, giảm chi phí quốc phòng, phát huy sức mạnh toàn dân, toàn diện, tạo nên sức mạnh phòng thủ đất nước và đủ sức mạnh chống lại mọi tình huống chiến tranh. Với tầm nhìn chiến lược, Đại tướng Lê Đức Anh đặc biệt quan tâm đến công tác tăng cường phòng thủ biển, đảo.

Tháng 9-1992, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa IX, đồng chí được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 1992-1997. Trên cương vị nguyên thủ quốc gia, đồng chí đã cùng Tổng Bí thư Đỗ Mười, Thủ tướng Võ Văn Kiệt và tập thể Bộ Chính trị, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trăn trở, tìm tòi biện pháp, quyết sách đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố an ninh - quốc phòng và mở cửa hội nhập quốc tế; kiên định con đường đổi mới để tiến lên.

Đồng chí là người đề nghị và được Bộ Chính trị chấp nhận việc phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng để tôn vinh và ghi công sự cống hiến của các bà mẹ cho độc lập, tự do của Tổ quốc và giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau.

Ngoài ra, dấu ấn nổi bật của đồng chí Lê Đức Anh phải kể đến là những đóng góp trong lĩnh vực ngoại giao. Thực hiện đường lối Đổi mới, năm 1986, Việt Nam bắt đầu tiến hành bình thường hóa quan hệ với một số nước, trong đó có hai nước lớn là Trung Quốc và Mỹ. Lúc đó, Đại tướng Lê Đức Anh đang giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Sau những trăn trở, tìm tòi, Đại tướng đã tìm ra những bước đi khôn khéo với chiến dịch "Phẫu thuật nụ cười" và "Tìm kiếm người Mỹ mất tích - MIA" - mở ra một cách tiếp cận trong việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Và bước mở đầu đó đã góp phần quan trọng trong việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước vào năm 1995.

Đối với việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, đồng chí cùng Bộ Chính trị đã quyết định bắt đầu công việc bằng hai kênh: Ngoại giao nhân dân và ngoại giao bí mật. Tháng 7-1991, Đại tướng Lê Đức Anh với tư cách là phái viên của Bộ Chính trị sang thăm nội bộ Trung Quốc để bàn bạc những vấn đề cụ thể việc bình thường hóa quan hệ hai nước. Sau khi Đại tướng Lê Đức Anh đi "tiền trạm" về, tháng 11-1991, nhận lời mời của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân và Thủ tướng Quốc vụ Viện Trung Quốc Lý Bằng, đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam do Tổng Bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt dẫn đầu sang thăm chính thức Trung Quốc. Sau lễ đón và hội đàm, hai bên ra Thông cáo chung và ký Hiệp định chính thức bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.

Đánh giá của lãnh đạo Đảng, Nhà nước về Bộ trưởng Lê Đức Anh

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng qua các thời kỳ: Đại tướng Lê Đức Anh

Tổng Bí thư Đỗ Mười: “Anh Lê Đức Anh vốn là cán bộ chỉ huy quân đội, đã trải qua chiến đấu gian khổ của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược và 10 năm làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn ở Campuchia nên ở anh quan điểm giai cấp rất vững vàng và rõ ràng… Tôi cho rằng anh Lê Đức Anh là mội trong những nhà chính trị tầm cỡ, nhà quân sự lớn của Đảng và Nhà nước ta”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn