Anh hùng Lực lượng vũ trang

ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH (1920 – 2019) – NHÀ CHỈ HUY QUÂN SỰ CHIẾN LƯỢC TÀI BA, TƯ LỆNH CHIẾN TRƯỜNG CAMPUCHIA VÀ CHỦ TỊCH NƯỚC THỜI KỲ MỞ CỬA BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ QUỐC TẾ

Huế27/10/2026Nguyễn Ngọc Minh Ánh (Phường Dĩ An)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Từ người thanh niên công nhân cao su giác ngộ cách mạng tại miền Đông Nam Bộ đến vị tướng trận mạc dạn dày kinh qua bốn cuộc chiến tranh và trở thành nguyên thủ quốc gia, Đại tướng Lê Đức Anh (bí danh Sáu Nam) là một trong những nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam. Cuộc đời hoạt động cách mạng gần một thế kỷ của ông gắn liền với những chiến dịch mang tính bước ngoặt quân sự, việc cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng Khmer Đỏ, cùng những quyết sách đối ngoại chiến lược phá vỡ thế bao vây cấm vận, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên hội nhập.

XUẤT THÂN, TUỔI TRẺ CÔNG NHÂN VÀ THAM GIA KHỞI NGHĨA TẠI MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

Lê Đức Anh sinh ngày 1/12/1920 tại làng Bàn Môn, xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế; quê gốc tại làng Trường Hà, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.

  • Dấn thân vào phong trào công nhân: Năm 1937, khi mới 17 tuổi, ông rời quê hương vào Nam Kỳ tìm đường mưu sinh, làm công nhân tại các đồn điền cao su Dầu Tiếng, Bình Dương và Lộc Ninh.

  • Giác ngộ lý tưởng cách mạng: Giữa cảnh công nhân bị thực dân và chủ đồn điền bóc lột cùng cực, ông tích cực tham gia phong trào đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1938.

  • Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945: Trong Cách mạng Tháng Tám, ông trực tiếp chỉ đạo lực lượng thanh niên, công nhân cao su Hớn Quản (Bình Phước) nổi dậy cướp chính quyền địa phương, sau đó tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang đầu tiên của tỉnh Thủ Dầu Một.

  • BẢN LĨNH TƯỚNG TRẬN MẠC TRONG HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN

    Sau khi thực dân Pháp tái chiếm Nam Bộ, Lê Đức Anh chính thức bước vào con đường binh nghiệp, kinh qua khắp các chiến trường gian khổ:

    • Thời kỳ Kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954):

    Ông lần lượt đảm nhận các vị trí: Chi đội trưởng, Tham mưu trưởng Khu 7, Khu 8 rồi Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Ông nổi tiếng với phong cách tác chiến linh hoạt, am tường nghệ thuật chiến tranh du kích và bám trụ vùng địch hậu miền Đông Nam Bộ.

  • Tập kết ra Bắc và công tác tham mưu chiến lược (1954 – 1963):

  • Sau Hiệp định Genève, ông tập kết ra miền Bắc, giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Cục trưởng Cục Tác chiến – Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, tham gia xây dựng kế hoạch hiện đại hóa quân đội và phương án chi viện chiến trường miền Nam.

  • Trở lại chiến trường miền Nam (1964 – 1975):

  • Năm 1964, ông bí mật vượt Trường Sơn trở lại miền Nam, giữ chức Tham mưu trưởng rồi Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân Giải phóng miền Nam (Bộ Chỉ huy Miền).

    • Chỉ huy Chiến dịch Đánh bại cuộc hành quân Junction City (1967): Cuộc hành quân tìm diệt lớn nhất của Mỹ vào căn cứ Trung ương Cục miền Nam ở Tây Ninh đã bị quân ta bẻ gãy, bảo toàn tuyệt đối cơ quan đầu não.

  • Tư lệnh Quân khu 9 (Tây Nam Bộ): Giai đoạn 1969 – 1974, trước kế hoạch "Việt Nam hóa chiến tranh" và chính sách bình định tàn khốc của Mỹ – ngụy, ông đã kiên quyết chỉ đạo lực lượng vũ trang Tây Nam Bộ bám đất, bám dân, đánh tan nhiều cuộc càn quét lớn vào vùng U Minh, giữ vững địa bàn chiến lược.

  • Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975): Trong trận quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn, ông trực tiếp chỉ huy Cánh quân Tây Nam (Đoàn 232), vượt qua đầm lầy, tiến công tiêu diệt Biệt khu Thủ Đô, cắt đứt hoàn toàn đường rút chạy của địch về miền Tây và cùng các cánh quân khác hợp điểm giải phóng hoàn toàn miền Nam ngày 30/4/1975.

  • TƯ LỆNH MẶT TRẬN 719: CỨU NHÂN DÂN CAMPUCHIA THOÁT KHỎI THẢM HỌA DIỆT CHỦNG

    Sau năm 1975, tập đoàn phản động Pol Pot – Ieng Sary phát động cuộc chiến tranh xâm lược toàn tuyến biên giới Tây Nam nước ta và thực hiện tội ác diệt chủng tàn bạo đối với nhân dân Campuchia.

    • Tư lệnh Quân khu 7 kiêm Tư lệnh Mặt trận Tây Nam: Đại tướng Lê Đức Anh là người trực tiếp chỉ huy cuộc phản công chiến lược đẩy lùi quân Pol Pot khỏi lãnh thổ Việt Nam.

  • Chỉ huy Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia (Mặt trận 719):

  • Từ năm 1979 đến 1986, trên cương vị Tư lệnh Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia kiêm Trưởng Ban Lãnh đạo Đoàn Chuyên gia Việt Nam tại Campuchia, ông đã trực tiếp chỉ đạo:

    • Phối hợp cùng Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Campuchia tiến công lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, giải phóng Thủ đô Phnom Penh ngày 7/1/1979.

  • Giúp bạn hồi sinh đất nước từ con số không: xây dựng lại chính quyền, khôi phục kinh tế, trường học, bệnh viện và huấn luyện lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia tự làm chủ vận mệnh đất nước.

  • Lãnh đạo công tác rút toàn bộ Quân tình nguyện Việt Nam về nước an toàn sau khi chính quyền bạn đủ sức tự đứng vững.

  • BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO VÀ LỜI THỀ TRƯỜNG SA (1988)

    Năm 1986, ông được bổ nhiệm làm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, và từ năm 1987 đến 1991 giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

    • Quyết sách bảo vệ chủ quyền biển đảo:

    Đầu năm 1988, trước những diễn biến căng thẳng tại quần đảo Trường Sa, Bộ trưởng Lê Đức Anh đã chỉ đạo thực hiện Chiến dịch CQ-88 (Chủ quyền 88), đưa lực lượng công binh và hải quân đóng giữ các đảo chìm, bãi cạn chiến lược, giữ vững chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

  • Lời thề thiêng liêng trên đảo Trường Sa Lớn:

  • Ngày 7/5/1988, trong chuyến thị sát đảo Trường Sa Lớn nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân chủng Hải quân, Đại tướng Lê Đức Anh đã đọc lời thề bất hủ trước hàng quân:

    "Chúng ta xin thề trước hương hồn của tổ tiên ta, trước anh linh của cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, xin hứa với đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau: Quyết tâm bảo vệ bằng được bờ cõi và các hải đảo của Tổ quốc muôn vàn yêu quý của chúng ta!"

    DẤU ẤN CHỦ TỊCH NƯỚC: BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ QUỐC TẾ VÀ ĐỔI MỚI THỂ CHẾ (1992 – 1997)

    Tháng 9/1992, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa IX, Đại tướng Lê Đức Anh được bầu giữ chức Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo Hiến pháp mới năm 1992.

    Trên cương vị nguyên thủ quốc gia, ông để lại những dấu ấn mang tính lịch sử:

    • Đột phá ngoại giao, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ:

    Trước khi nhậm chức Chủ tịch nước, ông được Bộ Chính trị cử làm phái viên đặc biệt sang Bắc Kinh đàm phán bí mật vào tháng 7/1991, mở đường cho việc bình thường hóa hoàn toàn quan hệ Việt – Trung vào tháng 11/1991. Trong nhiệm kỳ Chủ tịch nước, ông đã cùng lãnh đạo Đảng thúc đẩy tiến trình thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Hoa Kỳ (1995) và đưa Việt Nam gia nhập ASEAN (1995).

  • Chuyến công du lịch sử sang Hoa Kỳ (1995):

  • Tháng 10/1995, ông là nguyên thủ quốc gia đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất đặt chân lên đất Mỹ để tham dự Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Liên Hợp Quốc tại New York, đánh dấu bước ngoặt chấm dứt hoàn toàn thế cô lập quốc tế của đất nước.

  • Xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp:

  • Ông là người ký Lệnh công bố Hiến pháp 1992, ký ban hành hàng loạt bộ luật quan trọng (Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động...) tạo khung pháp lý cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

  • Tri ân các Mẹ Việt Nam Anh hùng:

  • Ông là người ký Lệnh công bố Pháp lệnh quy định Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng" và trực tiếp trao danh hiệu đầu tiên cho hàng ngàn bà mẹ có người thân hy sinh vì độc lập dân tộc.

    CUỘC SỐNG GIẢN DỊ VÀ VINH DANH LỊCH SỬ

    Sau khi rời cương vị Chủ tịch nước năm 1997, ông tiếp tục giữ trọng trách Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng đến năm 2001. Ông luôn giữ phong thái cương trực, quyết đoán, nói ít làm nhiều và sâu sát với đời sống nhân dân.

    Đại tướng Lê Đức Anh từ trần ngày 22/4/2019 tại Hà Nội, hưởng đại thọ 99 tuổi.

    Ghi nhận những công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Đảng và Nhà nước đã trao tặng ông:

    • Huân chương Sao Vàng

  • Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất

  • Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng

  • Huân chương Angkor (phần thưởng cao quý nhất của Vương quốc Campuchia) cùng nhiều huân huy chương quốc tế khác.

  • Đại tướng Lê Đức Anh là tấm gương kiên trung của một vị tướng chỉ huy thao lược, một nhà lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược sâu sắc, luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết trong những thời khắc then chốt của lịch sử.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn