Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG - CHƯƠNG 2

Đại tướng Lê Đức Anh (1920–2019), bí danh Sáu Nam, là nhà lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao của Việt Nam, từng giữ chức Chủ tịch nước thứ 4 (1992–1997). Ông là vị tướng dày dạn trận mạc, có vai trò quyết định trong Chiến tranh biên giới Tây Nam và là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1987-1991), người có công lớn trong bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ và đưa Việt Nam gia nhập ASEAN. Bài viết chia sẻ nội dung cuốn sách ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG Nhà xuất bản Chính trị Quốc g

Quảng Ninh29/03/2026Bùi Thị Thùy Linh (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Tiên Yên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chương 2

TỔ CHỨC CÁC NGHIỆP ĐOÀN Ở ĐỒN ĐIỀN CAO SU LỘC NINH VÀ THAM GIA ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945Để tránh sự truy lùng của địch, cuối năm 1939, tôi lánh vào Hội An - Quảng Nam, ở nhà chị gái là Lê Thị Búp. Đầu năm 1940, tôi vào Phan Rang và đi xe lửa lên Đà Lạt.Đến Đà Lạt, tôi ở nhà chị gái Lê Thị Trĩ. Một tháng sau, tôi xin vào làm công tại khu nghỉ mát của sở Nam Kỳ. Hồi đó, bọn chủ vẫn gọi những người lao động là cu ly. Công việc hằng ngày là quét dọn trong nhà, ngoài sân và quét lá thông ở tất cả các đồi. Họ trả lương 15 đồng một tháng. Tiền ăn đã hết 12 đồng, chỉ còn lại 3 đồng, phải tằn tiện, chắt bóp lắm mới đủ tiêu vặt cho những sinh hoạt thường nhật. Làm cu ly được hai tháng, tôi thấy mình phải cố gắng học lấy một nghề, bởi có nghề ổn định mới kiếm được tiền sinh sống và tiếp tục hoạt động cách mạng. Tìm hiểu xung quanh, tôi xác định được hai nghề là đánh máy chữ và chế biến thực phẩm. Vì tôi thấy ở gần đó, có hai vợ chồng người Tây tên là Bêgăng, là lính đã giải ngũ, quản lý 10 ngôi biệt thự. Ngoài công việc quản lý, Bêgăng còn làm các món ba tê, xúc xích, dầm bông để bán. Lúc đầu tôi xin vào làm thêm ngoài giờ là đứng xay thịt, Bêgăng đồng ý và trả tôi thêm 3 đồng một tháng. Thấy tôi làm nhanh, ông bắt đầu hướng dẫn tôi làm ba tê, xúc xích. Vợ Bêgăng làm kế toán, kiêm luôn đánh máy chữ. Tôi cũng đi thuê một cái máy chữ về tập đánh. Khi đã thông thạo, tôi bảo vợ Bêgăng cho tôi đánh các văn bản và bà ta đồng ý.Như vậy, suốt một năm, tôi vừa làm cu ly quét dọn, cùng những người cu ly khác hằng ngày dọn dẹp 10 ngôi biệt thự và quét lá thông trên mấy quả đồi, vừa làm thuê chế biến thực phẩm nguội vừa đánh máy chữ. Người Tây quản lý nhân công rất chặt chẽ nên khu biệt thự và đồi thông lúc nào cũng sạch sẽ. Việc chế biến thực phẩm thì tôi làm ngoài giờ và ban đêm.Những người bồi bếp ở mấy khu biệt thự gần đó đến mua ba tê, xúc xích đã khuyên tôi về Sài Gòn. Tôi cũng muốn về Sài Gòn, nhưng rất khó. Hồi đó, Trung Kỳ là đất bảo hộ, từ Huế, Đà Nẵng vào Ninh Thuận đi bằng tàu hỏa thì dễ, nhưng từ Ninh Thuận, Bà Rịa, Biên Hòa hoặc từ Đà Lạt xuống Sài Gòn đều khó, vì Nam Kỳ là đất thuộc địa của Pháp, từ Trung Kỳ vào Nam Kỳ chúng xét dữ lắm. Một người Tây là chủ Công ty Cao su nhiệt đới ở khu biệt thự bên cạnh, rất thích ăn ba tê xúc xích, dăm bông do tôi làm nên thường sai đầu bếp hoặc vợ sang mua. Về sau người Tây này hỏi tôi:- Mày làm như vậy lương được bao nhiêu?- Cả lương cu ly quét dọn và làm thực phẩm được trả 18 đồng một tháng - Tôi trả lời.Nghe vậy, người Tây này bảo: Đi làm cho tao, tao sẽ trả hơn. Tôi đồng ý ngay. Nhưng ông ta không thuê tôi làm trực tiếp mà lại giới thiệu tôi với một người Tây khác ở đồn điền cao su Lộc Ninh. Người này có xe ô tô đưa tôi về Sài Gòn, sau đó đưa tôi về đồn điền cao su Lộc Ninh làm xúc xích và dăm bông, họ trả cho tôi mỗi tháng 30 đồng.Những năm trước Cách mạng Tháng Tám, nạn đói ở Bắc Kỳ đã khiến một số đông người từ miền Bắc di cư vào phía Nam để kiếm sống. Từ chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và phát xít Nhật, tôi thấy từ Vinh vào Huế đến Đà Nẵng, Hội An chỉ có những xưởng sửa chữa nhỏ, ngành cơ khí chưa có gì đáng kể, số lượng công nhân không nhiều. Còn người dân lao động chỉ tập trung chủ yếu ở ba nơi: hầm mỏ, đường xe lửa và đồn điền cao su. Phần lớn dân ở đồn điền cao su Lộc Ninh là người từ các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Hà Đông1, Nam Định, Thái Bình,... phu cao su ở đây được quy định lao động một ngày 8 giờ. Chủ Tây đi kiểm tra cả về số lượng và chất lượng rất chặt chẽ. Việc phòng bệnh, chữa bệnh cũng được thực hiện để công nhân có sức khỏe làm việc. Nếu phát hiện ra người ốm giả vờ thì người quản lý khiển trách và xử phạt. Chủ Tây cho xây nhà thờ Cơ Đốc giáo và khuyến khích phu cao su đi lễ nhà thờ. Đồn điền thì rộng lớn, những người cai quản không nhiều, cai cũng là người làm thuê, hằng ngày trụ ở đồn điền, bám các lô cao su để cai quản những người phu và công việc, còn chủ thực sự của đồn điền thì ở Sài Gòn. Giám đốc, phó giám đốc điều hành thực chất cũng là Tây làm thuê cho Tây chủ đồn điền. Dưới giám đốc điều hành là thầy xu, dưới thầy xu là cặp rằng, mỗi nhóm từ 15 đến 20 phu cao su thì Tây chỉ định một đội trưởng phụ trách gọi là cặp rằng. Như vậy, thầy xu và cặp rằng đều là người làm thuê. Chủ Tây của đồn điền cao su Lộc Ninh khi thì ở thành phố Sài Gòn, khi thì về sống ở Thủ đô Paris (Pari). Mọi việc điều hành của đồn điền ông ta giao cho Giám đốc điều hành tên là De Lalane (Đờ Lalăng), Phó giám đốc là Mandon (Manđông). Mandon là người Do Thái.De Lalane trả lương cho tôi một tháng là 30 đồng. Thấy ba tê, xúc xích tôi làm ăn ngon nên ông ta yêu cầu làm thêm để bán cho các đồn điền kế cận và mang về Sài Gòn. De Lalane trả thêm cho tôi 15 đồng mỗi tháng để đi phân phát lương thực. Như vậy, mỗi tháng tôi có thu nhập đều đặn 45 đồng. Có tiền dư dật, công việc lại không bị quản chặt như phu cạo mủ cao su nên tôi có điều kiện đến các làng tiếp xúc với phu cao su vận động, xây dựng phong trào của phu cao su và tôi cũng bắt đầu nghĩ đến việc tìm và bắt liên lạc với tổ chức cách mạng.Giám đốc điều hành đồn điền De Lalane thì ở công ty, còn cai quản trực tiếp ở Lộc Ninh là Manđon. Dưới đồn điền được chia thành nhiều lô cao su, mỗi lô là một "làng", tiếng Pháp đọc là Đivisung và cử một người Việt Nam phụ trách. Đồn điền cao su Lộc Ninh ngày đó có 12 "làng", công nhân ở đây là lực lượng sản xuất chính của đồn điền - những người trồng cây, chăm bón và cạo mủ cao su. Cùng với hoạt động sản xuất của các "làng" còn có "Nhà đèn", là nơi cung cấp và quản lý hệ thống điện của cả đồn điền; có gara bảo dưỡng và sửa chữa 20 chiếc ôtô con và 5 chiếc xe cam nhông hằng ngày chở mủ cao su; có xưởng mộc xẻ cây đóng bàn ghế, dụng cụ cạo mủ; có xưởng rèn dao, cuốc cung cấp cho 12 làng công nhân và một đội thợ xây. Nhà máy đèn do ông Lê Văn Gián (tức Ba Đèn) phụ trách. Các xưởng còn lại gọi chung là xưởng cơ khí do anh Lê Văn Định, con trai ông Ba Đèn phụ trách.Phu cao su từ miền Bắc vào phần lớn là thanh niên, nhiều người đã có vợ ở quê, có một số là nữ. Chủ Tây làm hợp đồng thuê lao động với từng người, ký hợp đồng 10 năm một, trả trước một ít lương cho gia đình, còn lại để chi cho ăn uống, thuốc men và tiền tiêu vặt hằng tháng tại đồn điền. Không giống như các đồn điền khác, riêng ở đồn điền cao su Lộc Ninh, bình quân mỗi phu cao su một ngày được hưởng 800g gạo, 200g cá tươi hoặc thịt; nếu là cá khô thì 100g, ngoài ra còn có rau, đậu phụ. Nằm ngủ cũng có mùng để chống muỗi. Cái mà họ thiếu nhất là tinh thần. Ngày này qua tháng khác, lúc nào người phu cũng làm việc quần quật, dãi dầu, cắm mặt với những lô cao su, không quan hệ, tiếp xúc với xã hội bên ngoài, không đọc sách báo, không nghe nhạc và cũng không chơi thể thao. Ngoài giờ làm chỉ có đánh bạc và uống rượu là thứ giải trí duy nhất. Mà đã ngồi vào chiếu bạc thì trăm người như cả trăm, lập tức nhiễm ngay cái máu ăn thua. Thế là cứ đánh từ tối cho tới đêm khuya. Có người buồn ngủ rã rời nhưng cũng cố đánh. Khi ngủ thì nằm vật ra, chẳng mắc mùng, mặc cho muỗi đốt. Thiếu ngủ, lúc nào người cũng mệt mỏi, mặt xanh xao, sức yếu đi liền với chây lười, làm việc uể oải, cạo mủ, vun cây thì làm hỏng cây. De Lalane đi kiểm tra thấy thì mắng chửi thầy xu, thầy xu quay xuống quát nạt cặp rằng, thế là cặp rằng liền chửi mắng phu, thậm chí còn đánh đập.Tôi tìm hiểu tình hình và biết rõ thực trạng cuộc sống của những người lao động trong từng lô cao su. Tôi lựa lời bàn với họ làm sao giúp nhau để bảo đảm cho đời sống của người phu đỡ cực khổ. Tôi nói chuyện với các thầy xu và bàn với họ: Phải làm sao để chủ Tây không chửi mắng, không khinh người Việt ta quá thể. Họ nói: Chú không biết làm thế nào. Số phu này không lười, còn chủ Tây chửi mình cũng thấy nhục lắm, nhưng không biết phải làm sao đây. Tôi nhủ họ: Chủ Tây quy định cho các anh mỗi người phụ trách mấy chục, mấy trăm mét vuông và bao nhiêu cây cao su. Tới kỳ cạo mủ, bón phân, làm cỏ,... anh cứ phân ra cho từng tốp 10 người một, rồi trong từng tốp lại phân ra cho từng người, cứ khoán cho họ làm, làm xong thì nghỉ. Thầy xu nói: "Được". Đầu tiên làm thử một làng, sau đó phổ biến ra các nơi. Kết quả, anh em chăm bón cây cao su tốt và làm đúng quy trình kỹ thuật. Ngày nào chủ Tây cũng ngồi ôtô đi kiểm tra cả 12 làng và khen thầy xu quản phu làm tốt. Lao động có hiệu quả, chủ Tây không chê, không chửi mắng nữa, người phu thấy đỡ căng thẳng, không khí lao động dễ chịu hơn. Tôi nói với các thầy xu phải làm sao những thứ chủ Tây cấp cho từng người lao động được đưa xuống đủ để họ có sức làm việc. Trước hết, người Việt ta làm và đối xử với nhau cho tốt và cố gắng không đánh mắng nhau; vận động, nhắc nhở phu đi ngủ phải mắc mùng, không để muỗi đốt, ngừa sốt rét. Rồi nói với họ hạn chế dần chuyện đánh bạc, cho đánh chơi, giải trí ngày chủ nhật. Nơi ăn, ở phải giữ cho sạch sẽ. Bằng cách đó, tôi đã nối được quan hệ giữa thầy xu với cặp rằng. Từ đó, từ thầy xu đến phu đồn điền bước đầu đã có lòng tự tôn dân tộc và có sự thông cảm, chia sẻ, biết quan tâm đến nhau hơn lúc lao động cực nhọc hay đau ốm.Hồi đó, rau tươi hiếm, trong bữa ăn của phu cao su chỉ có cơm với cá khô và tương. Xung quanh nhà ở của người phu có nhiều đất, tôi nói với các thầy xu khuyến khích người phu trồng rau muống cạn, nơi ao chuôm có nước thì trồng rau muống nước. Bữa ăn, có rau muống luộc chấm tương, người phu ăn thấy ngon miệng hơn. Rau muống ăn không hết thì họ cắt bán cho công ty. Các lô khác thấy vậy cũng bắt chước làm theo. Sự căng thẳng giữa người phu với cặp rằng và thầy xu giảm dần. Tôi bàn với thầy xu và cặp rằng, mỗi lô chọn một người phu có uy tín lo việc ăn uống và nhận lương cấp phát cho anh em. Đọc báo, thấy bên Pháp có tổ chức Nghiệp đoàn thợ thuyền và được luật pháp quy định, nên khi tôi xin tổ chức Nghiệp đoàn cao su thì chủ Tây đồng ý. Sau đó, việc này lan tỏa ra cả khu đồn điền cao su Lộc Ninh.Trước ngày 23-11-1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra và bị thất bại. Từ đó cho đến năm 1943, thực dân Pháp đàn áp khủng bố khốc liệt. Cơ sở của ta bị vỡ, nhiều cán bộ bị bắt, tù đày, tử hình 1, tổ chức cách mạng tan rã. Một số chạy lên các đồn điền cao su để tránh đòn khủng bố ráo riết của quân Pháp, trong số đó có anh Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Hữu Đang và Hoàng Dư Khương. Mãi sau này, khi anh Khuông đã là ủy viên Xứ ủy Nam Bộ, gặp lại tôi, anh mới nói:

- Hồi đó, mình ở Quản Lợi nhưng mình nằm im không hoạt động. Mình thấy cậu hoạt động nhưng mình không bắt liên lạc.

Tôi hỏi lúc đó anh làm gì, thì anh trả lời bằng tiếng Pháp:

- Cápôral Capôreax (Cabôran đề Cabôrô), tức là "Cặp rằng của những cặp rằng" (cai của những người cai).

Ở Lộc Ninh, thông qua việc vận động các thầy xu, cặp rằng, tôi thực hiện được ý định đầu tiên là tổ chức, củng cố đời sống vật chất và tinh thần cho những người phu cao su, hâm nóng và thắp sáng trong họ lòng tự tôn dân tộc. Khi công việc này đã có những kết quả khả quan, tôi nghĩ đến việc chọn những người tiêu biểu để giác ngộ và gây dựng lực lượng đầu tiên cho cách mạng ở vùng này. Nhưng muốn tiến hành việc đó, trước hết phải tìm cách bắt được liên lạc với tổ chức của Đảng. Lúc này, với đồng lương và sự tiết kiệm trong chi tiêu đã giúp tôi có điều kiện để thực hiện ý định này.

Như nên đã nói, do làm công việc phân phối thực phẩm nên tôi có điều kiện đi lại, tiếp xúc với nhiều người ở trong và ngoài đồn điền cao su. Tại đồn điền cao su Lộc Ninh này, năm 1942 tôi gặp được người em của anh Nguyễn Văn Tạo (sau này anh Tạo là Bộ trưởng Bộ Lao động). Tôi được dẫn về nhà bố mẹ anh Tạo ở Bình Chánh - Sài Gòn. Từ đây, tôi chính thức bắt được liên lạc với tổ chức cách mạng.

Nói thì ngắn gọn như vậy, nhưng thực tế cũng mất nhiều công mới bắt được liên lạc. Thoạt đầu về Sài Gòn, tôi tìm đến Nhà in Phú Hữu do ông Phú Hữu phụ trách tại đường Galêry. Ông Phú Hữu cũng biết anh Nguyễn Văn Trấn hoạt động công khai cho Đảng Cộng sản (sau Cách mạng Tháng Tám, anh Trấn làm Chính ủy Khu 9). Trong bữa cơm tại nhà ông Hữu, anh Trấn nói: "Tôi có người em làm ở Lộc Ninh gọi là cô Bảy, lấy chồng là anh Tư". Lần thứ hai về Sài Gòn, tôi lại đến nhà ông Hữu và tình cờ gặp anh Tư. Tôi nói, tôi cũng đang làm ở Lộc Ninh. Sau đó chị vợ anh Tư dẫn tôi về nhà cha mẹ mình ở Bình Chánh, nhưng không gặp được anh Nguyễn Văn Tạo. Hóa ra anh Nguyễn Văn Tạo, một người hoạt động cách mạng nổi tiếng, là con thứ ba của ông bà, chị vợ ông Hữu là con thứ tư, chị thứ sáu là vợ anh Nguyễn Văn Trấn, kế đó là chị Bảy. Sau đó tôi thường qua lại, được gia đình quý mến, coi như người con của gia đình, mọi người gọi tôi là Tám. Chị Bảy hiện nay, tuy tuổi đã ngoài 90 nhưng còn khỏe. Những lần có việc vào Thành phố Hồ Chí Minh, tôi thường đến thăm chị ở nhà số 16, quốc lộ 1A, phường Thành Lộc, quận 12. Hồi đó, qua tiếp xúc với bạn bè của ông Hữu, anh Tư, tôi thấy ai cũng muốn giành độc lập. Từ những cuộc gặp gỡ này, tôi mới được anh Trấn và chị Tư giới thiệu đến gặp một người đã từng làm chủ bút tờ báo Lao động ở Sài Gòn thời kỳ 1936-1939, báo phát hành ra tận Huế và Hà Nội. Người này đồng thời là Chủ tịch Nghiệp đoàn thợ may Sài Gòn, tên là Văn Công Khai, là đảng viên cộng sản. Thế là chúng tôi gặp nhau ở đó và gặp cả anh Nguyễn Văn Trấn là con rể gia đình anh Tạo, làm ở đồn điền cao su Dầu Tiếng. Anh Trấn là người hoạt động trong phong trào dân chủ năm 1936-1939 sau đó, anh cũng là người tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa năm 1945. Tôi nói với anh Văn Công Khai:

- Tôi gặp được anh là nhờ những cuộc gặp gỡ tình cờ ở nhà ông Phú Hữu.

- Phú Hữu là người có cảm tình với cách mạng nhưng theo tư tưởng cải lương. Cách mạng vô sản thực sự phải là Nguyễn Ái Quốc, là Đệ tam Quốc tế - Anh Khai nói.

- Giờ anh ra sao? - Tôi hỏi.

- Tao đi cúp dạo (cắt tóc), cứ gọi tao là thằng Văn, mọi người sẽ biết. Mày cứ xây dựng cơ sở ở trên đó cho tốt, còn tao sẽ xây dựng cơ sở ở đây cho tới thị xã Thủ Dầu Một. Khu vực Chơn Thành và tuyến xe lửa Sài Gòn - Lộc Ninh thì giao cho thằng Trung đang làm ở ngành xe lửa, làm sếp ga Chơn Thành.

Khi biết những việc tôi đã tổ chức làm ở Lộc Ninh, anh Khai bảo:

- Mày làm được! Phải xây dựng những người nòng cốt đại diện cho quyền lợi của công nhân lao động, những người đó phải kiên định.

Lời khuyên của anh Khai giúp tôi thận trọng hơn, tự tin hơn trong công việc tổ chức, lãnh đạo cũng như trong hoạt động cách mạng.

Tôi gặp anh Văn Công Khai trong lúc thực dân Pháp tổ chức lùng bắt, ruồng bố gắt gao. Anh Khai gầy yếu, áo quần rách rưới. Tôi hỏi:

- Anh có đủ ăn không?

- Tao đói, mày có cho tao ít - Anh bảo.

Từ đó, mỗi tháng tôi đưa cho anh Khai từ 7 đến 10 đồng.

Tôi bảo:

- Anh cắt tóc dọc bên bờ sông và trong các làng phu cao su phải thận trọng, phải chọn khách, đừng có dễ tin mà nó biết mặt.

Anh cũng nói cho tôi nghe những kinh nghiệm hoạt động bí mật ở Sài Gòn và Nam Bộ. Anh nói:

- Nếu Xôviết Nghệ - Tĩnh bị tổn thất về cơ sở thì Nam Kỳ khởi nghĩa tổn thất lớn về lãnh đạo.

Để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo phong trào công nhân và phong trào cách mạng chung trong toàn tỉnh, đầu năm 1943, tại làng 1, đồn điền cao su Dầu Tiếng, Tỉnh ủy lâm thời (gọi là Ban Cán sự Đảng) tỉnh Thủ Dầu Một được tái lập do anh Văn Công Khai làm Bí thư. Tôi được bổ sung vào Tỉnh ủy. Tỉnh ủy phân chia địa bàn hoạt động ra làm hai vùng phía bắc và phía nam, phân công cán bộ chỉ đạo trực tiếp các vùng. Tôi và anh Nguyễn Văn Trung chỉ đạo phong trào Lộc Ninh và toàn bộ vùng phía bắc.

Sang năm 1943, phong trào công nhân ở đồn điền cao su Lộc Ninh đã vững, tôi phát triển sang Công ty Cao su Đất đỏ, gồm: Quản Lợi, Xa Cam, Xa Cát, Xa Trạch. Anh Trung hoạt động có hiệu quả trên tuyến đường sắt. Còn anh Khai vẫn trong vai "cắt tóc dạo", đi lại như con thoi từ Dầu Tiếng về thị xã Thủ Dầu Một. Cả ba chúng tôi đảm nhiệm gây dựng và phát triển phong trào cách mạng của tỉnh Thủ Dầu Một. Buổi đầu tiên ba chúng tôi gặp và bàn bạc công việc tại nhà ông Sáu Trạng ở thị trấn Bến Cát thuộc Thủ Dầu Một.

Tháng 2-1944, một chi bộ Đảng Cộng sản được thành lập ở Lộc Ninh gồm năm đảng viên2. Tôi là Ủy viên Ban Cán sự Đảng tỉnh Thủ Dầu Một kiêm Bí thư chi bộ và phụ trách vấn đề dân tộc thiểu số. Theo chỉ thị của Tỉnh ủy, Chi bộ Lộc Ninh trước mắt khẩn trương gây dựng phát triển lực lượng, đẩy mạnh tuyên truyền cách mạng trong công nhân và nhân dân vùng Hớn Quản, chuẩn bị đón thời cơ phát động quần chúng công nhân và đồng bào các dân tộc vùng lên khởi nghĩa.

Từ sau khi ra đời, Chi bộ Lộc Ninh thường lấy nhà thầy giáo Nhuận (tại chợ Lộc Ninh) làm một trong những nơi hội họp, cất giấu tài liệu mật của Đảng, đồng thời cũng là nơi liên lạc nhận tài liệu từ cấp trên đưa xuống.

Giữa năm 1944, Xứ ủy chủ trương xúc tiến việc thành lập các đoàn thể Mặt trận Việt Minh ở Nam Bộ. Tinh Thủ Dầu Một đề ra phương châm: nơi nào đã Phục hồi cơ sở đảng thì tổ chức các hội cứu quốc (Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc), sau đó phát triển đến các nơi khác. Ở Lộc Ninh, Chi bộ Đảng sau một thời gian gây dựng cơ sở đã thành lập nhóm trung kiên gồm các ông Mé, Ký Trinh, Khiêm, Ba Đèn, Cai Loại và Hai Định, làm nòng cốt vận động phong trào Việt Minh. Đến đầu năm 1945, vùng Lộc Ninh đã có một số hội cứu quốc.

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính, hất cẳng Pháp, giành quyền cai trị Đông Dương.

Lực lượng Nhật chiếm đóng ở Lộc Ninh do một tên quan tư Nhật chỉ huy. Chúng sử dụng các đơn vị bộ binh giữ những vị trí quan trọng ở thị trấn, các đồn điền cao su Lộc Ninh, Hớn Quan và Bù Đớp. Cùng với việc thiết lập bộ máy cai trị, chúng thiết lập hệ thống kho tàng trong các đồn điền.

Việc quản lý xã hội của quân Nhật trở nên rất lỏng lẻo, đây là thời cơ tốt để ta phát triển lực lượng cách mạng. Trên thực tế, lực lượng cách mạng ơ Nam Bộ nói chung và ở Thủ Dầu Một nói riêng, trong những ngày này, đã phát triển cả về tổ chức và lực lượng.

Về lực lượng, ta tổ chức và phát triển phần lớn là lực lượng hợp pháp, hoạt động công khai; một bộ phận là bất hợp pháp, hoạt động bí mật. Thanh niên cứu quốc và Phụ nữ cứu quốc là tổ chức hoàn toàn bí mật, còn tổ chức Thanh niên tiền phong lấy biểu tượng cờ vàng, sao đó thì hoạt động công khai, hợp pháp.

Tháng 6-1945, tổ chức Thanh niên tiền phong ra đời nhằm tập hợp mọi tầng lớp thanh niên Nam Bộ để chuyển hóa thành lực lượng cách mạng. Thanh niên tiền phong phát triển rất nhanh, trở thành phong trào quần chúng rộng rãi, hoạt động đất sôi nổi.

Bấy giờ, ở tỉnh Thủ Dầu Một và khá nhiều tỉnh khác trong Nam Bộ không nhận được văn bản chính thức Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" của Trung ương. Đến khi anh Văn Công Khai ra họp ở Nha Trang trở vào, triệu tập cuộc họp Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh tại nhà ông Sáu Trạng ở thị trấn Bến Cát (có anh Trấn - phái viên của Xứ ủy xuống dự) thì anh em mới được rõ. Anh Nguyễn Văn Trấn, anh Hoàng Dư Khương và anh Nguyễn Hữu Đang là những cán bộ đảng lên hoạt động ở đồn điền cao su. Anh Khương là người gốc Quảng Nam, sau này làm Bí thư Khu ủy miền Đông. Anh Đang là đảng viên năm 1930. Lúc đầu nghe tin anh cũng trốn lên đồn điền cao su, nhưng tôi không bắt liên lạc được. Khi anh qua đời để lại ba người con trai, cháu đầu tên là Phú - một thanh niên nhanh nhẹn, làm kinh tế giỏi. Những năm sau này, cháu Phú đến thăm tôi luôn, bây giờ cháu Phú làm ở cơ quan xử lý môi trường. Khi họp, anh Bảy Trấn nói rằng Xứ ủy chủ trương tổ chức Thanh niên tiền phong để hoạt động công khai. Anh nói về tình hình thế giới, bên châu Âu, Hồng quân Liên Xô đã giải phóng hoàn toàn Moscow (Mátxcơva) và nhiều vùng rộng lớn, bây giờ đang tấn công sang phía Belin (Béclin). Ta phải chuẩn bị lực lượng để sẵn sàng nổi dậy khi thời cơ đến... ở vùng đồn điền cao su, lực lượng nòng cốt của cách mạng là các nghiệp đoàn công nhân do chi bộ đảng vận động và toà chức. Mỗi làng tổ chức một nghiệp đoàn. Ở đồn điền cao su Lộc Ninh có 12 làng là 12 nghiệp đoàn, cùng với các nghiệp đoàn thợ cơ khí, thợ điện, thợ xây, thợ mộc,.. tích cực hoạt động. Lúc đầu chưa tổ chức đội vũ trang nhưng tất cả đã thống nhất với nhau, bí mật chuẩn bị vũ khí gồm gậy tầm vông vót nhọn, giáo mác, anh em người dân tộc Xtiêng thì có cung nỏ, vì chúng tôi thấy không thể chỉ nổi dậy khởi nghĩa bằng biểu tình mà phải có vũ khí, có đội vũ trang làm nòng cốt. Tôi trực tiếp sang tỉnh Krachie (Crachiê) của Campuchia để mua súng rồi vận chuyển về. Lúc đầu viên tỉnh trưởng Krachie cho người chặn đường thu súng. Chúng tôi đấu tranh, bà con Việt kiều thì có quà biếu nên tỉnh trưởng bảo: "Các anh đã bỏ tiền ra mua thì tôi cho trả lại". Việt kiều yêu nước ở Campuchia tự động mua súng gửi về cho cách mạng nước nhà. Số súng tôi sang mua, bà con Việt kiều cũng trả tiền, khoảng trên dưới 100 khẩu các loại, có cả trung liên và đại liên. Tôi còn nhớ trong việc mua súng, người đại diện Việt kiều ở bên đó có tên là Vượng, sau này anh Vượng về nước tham gia công tác ở ngành thông tin bưu điện.

Đến khi nghe tin quân Nhật sắp đầu hàng Đồng minh, chúng tôi chủ trương chọn những người trẻ tuổi, khỏe mạnh, hăng hái tập hợp thành một đội vũ trang. Chỉ tính riêng số anh em người dân tộc Xtiêng đã có khoảng 40 người, tất cả bí mật rời khỏi đồn điền cao su, tập trung về vị trí xóm Bưng để chuẩn bị khí giới và luyện tập vũ trang háo hức chờ lệnh khởi nghĩa.

Với sự tích cực vận động, tổ chức vụ chỉ đạo sâu sát của Đảng, cho đến tháng 8-1945 ở Lộc Ninh, lực lượng quần chúng đã hình thành các hội cứu quốc (Việt Minh), Thanh niên tiền phong, các đội thanh niên bán vũ trang, đội tự vệ. Lực lượng này đứng chân trên địa bàn phía bắc, góp phần đáng kể cho toàn tỉnh "hình thành một lực lượng bán vũ trang đông đảo gồm 150 đoàn Thanh niên tiền phong, Thanh niên cứu quốc có hơn 2 vạn đoàn viên3 sẵn sàng chờ lệnh đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền.

Trong khi đó, khắp các vùng quê của tỉnh Thủ Dầu Một, Tỉnh ủy đã chỉ đạo chuyển phong trào lập nhóm cứu quốc lên hội cứu quốc trong nông dân, công nhân, phụ nữ, thanh niên. Cùng với việc lập hội cứu quốc là phong trào tự sắm vũ khí, mỗi nơi có biện pháp sáng tạo riêng, nhưng đều đem lại kết quả tốt. Các thợ rèn trước đây chỉ sản xuất nông cụ, nay tự nguyện rèn dao găm, kiếm, mã tấu để ủng hộ đội tự vệ. Công nhân đề bô xe lửa Dĩ An làm vũ khí đưa ra cơ sở Việt Minh để đồng chí Đào Sơn Tây lập đội tự vệ ở xung quanh nhà máy. Trong tổ chức Thanh niên cứu quốc, hầu hết đoàn viên đều tự trang bị từ dây trói đến gậy tầm vông, dao găm, búa, xà beng, cung tên, luyện tập võ nghệ. Lợi dụng sơ hở của địch, nhiều công nhân tìm cách lấy súng địch đem về cho tổ chức (bà Trình Thị Hạ - một bồi bếp cho chủ đồn điền - một mình mang về một khẩu súng trường và một khẩu súng ngắn). Ngoài ra, một số chị phụ nữ còn lập mưu giao thiệp với quân ngụy và binh lính Nhật để mua súng, lựu đạn, rồi kết hợp với thanh niên tự vệ cướp súng của Nhật.

Lúc đó, ông Trần Văn Giàu giao cho ông Phạm Ngọc Thạch làm Chủ tịch Thanh niên tiền phong. Đồng chí Nguyễn Văn Đợi trước đây phụ trách Thanh niên cứu quốc, nay kiêm phụ trách Thanh niên tiền phong của Thủ Dầu Một. Ngày 15-7-1945, Đoàn đại biểu Thanh niên tiền phong Thủ Dầu Một kéo về Sài Gòn dự lễ tuyên thệ lần thứ nhất tại vườn ông Thượng cùng với 5 vạn đoàn viên Thanh niên tiền phong các tỉnh. Mọi người đồng thanh với thủ lĩnh Phạm Ngọc Thạch xin thề: Trung thành với Tổ quốc; trung thành với nhân dân; giữ gìn phẩm chất cao đẹp! Phong trào thanh niên toàn Nam Kỳ đã góp phần tăng cường lực lượng cách mạng của toàn dân.

Tại tỉnh lỵ Thủ Dầu Một và các quận, quân đội Nhật rất hoang mang khi nghe tin Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện quân Đồng minh. Chúng chôn giấu một số vũ khí, cấm binh sĩ không được ra khỏi đồn bốt, doanh trại. Một vài sĩ quan ở thành Phú Hòa mổ bụng tự tử. Hầu hết lính Nhật mong muốn sớm được trở về nước; một số ít bỏ trốn, ở lẫn trong dân để đi theo Việt Minh. Nắm lấy cơ hội này, Tỉnh ủy cử cán bộ đến yêu cầu chúng án binh bất động để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho chúng, còn ta thì càng thuận lợi cho việc chuẩn bị tổng khởi nghĩa.

Tại các đồn điền cao su Lộc Ninh, Hớn Quản, Dầu Tiếng, tổ chức Thanh niên cứu quốc, Thanh niên tiền phong có nhiều hình thức hoạt động phong phú, công khai tuyên truyền khởi nghĩa, dán khẩu hiệu "kiên quyết giành độc lập dân tộc" ở các làng công nhân. Đội vũ trang thì ráo riết luyện tập chuẩn bị vũ khí. Nhìn chung, từ ngày 18 tháng 8 trở đi ở Bến Cát, Tân Uyên, Dĩ An, Lộc Ninh,... địch đang trên đà suy sụp, rệu rã. Thế ta mạnh, lực lượng ta đông nên đã làm chủ tình hình ở những vị trí xung yếu nên toàn tỉnh. Lực lượng cách mạng chỉ còn chờ lệnh khởi nghĩa phát ra là sẽ đứng lên giành lấy chính quyền về tay nhân dân.

Ở Nam Bộ, các cấp bộ đảng thấm nhuần tinh thần của Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", đã chủ động, linh hoạt, sáng tạo, tích cực đón thời cơ khởi nghĩa. Khi được tin phát xít Nhật đầu hàng và nhất là được tin Hà Nội cướp chính quyền thắng lợi, nhân dân các địa phương gấp rút nổi dậy. Trong khi chưa liên lạc được với anh Nguyễn Văn Trung, tôi đã triệu tập cuộc họp tại Lộc Ninh gồm 10 người, trong đó có các ông Ba Đèn, Lợi, Lộc, Sang,... bàn việc cướp chính quyền. Lực lượng khởi nghĩa lúc này ngoài các đội tự vệ, thanh niên quyết chiến, Thanh niên tiền phong còn có đoàn thể công đoàn cứu quốc và tất cả mọi người dân yêu nước đang náo nức làm một cuộc đổi đời cho chính mình và cho cả dân tộc.

Sau khi dự Hội nghị Xứ ủy về, anh Văn Công Khai liền tổ chức cuộc họp Tỉnh ủy mở rộng (từ ngày 21 đến 23-8-1945). Hội nghị quyết định: giành chính quyền ở tỉnh vào ngày 25-8-1945, giành chính quyền ở các quan và thị trấn ngày 24 hoặc 25-8-1945, không được chậm trễ. Hội nghị cũng quyết định thành lập ủy ban khởi nghĩa tỉnh Thủ Dầu Một do anh Văn Công Khai làm Chủ tịch.

Sau hội nghị, anh Văn Công Khai phân công từng người về triển khai các biện pháp thực hiện. Tôi được giao nhiệm vụ phụ trách các quận Hớn Quản, Bù Đốp và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, sau khi giành chính quyền xong, tổ chức lực lượng chi viện cho thị xã Thủ Dầu Một và Sài Gòn cướp chính quyền.

Ngày 23-8-1945, tin tức về thắng lợi của cuộc đấu tranh chính trị ở Sài Gòn và thắng lợi của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Tân An nhanh chóng dội đến Thủ Dầu Một, càng thôi thúc các địa phương sục sôi nổi dậy.

Sáng ngày 24-8-1945, hàng nghìn công nhân các làng, đồn điền cao su Lộc Ninh - Đa Kia cùng nông dân các địa phương nhất tề nổi dậy. Từng đoàn người cầm gậy tầm vông vạt nhọn, xà beng, giáo mác, cung tên tiến vào các nhà máy, xí nghiệp đồn điền cao su. Làn sóng người ào ào vượt rào, leo tường, trương cờ đỏ sao vàng hô vang khẩu hiệu: "Chính quyền về tay Việt Minh", "Việt Nam độc lập muôn năm!", "Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!".

Quần chúng biểu tình chiếm các trụ sở hành chính, trụ sở cảnh sát trong thị trấn. Binh lính, hạ sĩ quan ngụy nộp vũ khí và được khoan hồng. Tại Bù Đốp, lực lượng khởi nghĩa thu được kho súng máy của địch.

Cùng với Lộc Ninh, các quận Tân Uyên, Lái Thiêu, Bến Cát nổi dậy giành chính quyền trong buổi sáng ngày 24-8-l945. Lộc Ninh là một trong những nơi giành chính quyền sớm trong tỉnh, có 22 người hy sinh. Ngay tối hôm đó, công nhân, nhân dân các làng cùng với chi bộ đảng tổ chức lễ mừng chiến thắng và cử hành lễ truy điệu các chiến sĩ đã hy sinh. Tôi tổ chức lực lượng gồm 300 người, trang bị vũ khí vừa thu được và giáo mác, tầm vông,... kẻo xuống thị xã Thủ Dầu Một tham gia tổng khởi nghĩa.

Nói đúng ra, lực lượng cách mạng ở vùng Hớn Quản, Bù Đốp và các quận trong tỉnh đã giành chính quyền từ đêm 28 rạng ngày 24 tháng 8. Đêm 24 tháng 8, lực lượng cách mạng từ các quận, huyện, đồn điền rầm rập tiến về thị xã... Đến 7 giờ sáng ngày 25-8-1945, cuộc mít tinh lớn được tổ chức trọng thể trước tòa thị chính quận Châu Thành. Sau khi làm lễ chào cờ, đồng chí Văn Công Khai, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa đọc diễn văn tuyên bố chính quyền về tay nhân dân. Ngay sau đó, chúng tôi cử một đoàn đại diện về Sài Gòn để tham gia diễu hành. Đoàn đã trên hai xe ôtô cam nhông, có trang bị súng tiểu liên và cung tên.

Trong hoàn cảnh ở xa, điều kiện liên lạc rất khó khăn, nhưng nhân dân Lộc Ninh đã nổi dậy tiến hành khởi nghĩa nhanh và rất gọn khi thời cơ đến. Thắng lợi ấy là kết quả của 15 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất của những người cộng sản và quần chúng cách mạng, trải qua những bước thăng trầm và bao hy sinh mất mát và là kết quả trực tiếp của cuộc vận động giải phóng dân tộc trong những tháng ngày khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa và khởi nghĩa giành chính quyền.

Bây giở tuổi đã cao, trí nhớ giảm, tôi không thể mường tượng lại đầy đủ những công việc, những con người và không khí hừng hực của ngày Tổng khởi nghĩa đó, cũng không thể nhớ hết bản thân mình đã làm được gì. Nhờ có bạn bè, đồng chí nhắc lại đã giúp tôi nhớ đôi chút. Chẳng hạn, ngày 8-5-2000, trong lá thư của anh Trần Văn Canh ở 73A Trần Bình Trọng, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh gửi cho tôi có đoạn viết: "Tôi và vợ tôi rất vui mừng nhận được quà quý do anh chị gửi tặng nhân kỷ niệm 25 năm Ngày miền Nam giải phóng. Gói quà mang đậm đà tình đồng chí, tình anh em, gợi cho tôi nhớ ngày nào... Ngày ấy, ở nhà hát của Sở Cao su Quản Lợi, anh phất cờ đỏ sao vàng kêu gọi công nhân, viên chức làm cách mạng, đánh đổ phát xít Nhật và thực dân Pháp, giành độc lập cho Tổ quốc. Lời kêu gọi hấp dẫn của anh đã được toàn thể quần chúng nhiệt liệt hưởng ứng, hô to: "Việt Nam độc lập muôn năm!". Tôi đi kháng chiến tưởng đâu không được gặp lại người mở đường cho mình. Ai ngờ qua hơn một năm sau, không những được gặp mà còn may mắn được người ấy dìu dắt nâng đỡ...".

Trong Cách mạng Tháng Tám, lãnh đạo giành chính quyền ở thị xã là anh Văn Công Khai, còn ở trên vùng cao su do tôi đảm nhiệm. Cả Lộc Ninh và Quản Lợi đều nằm trong quận Hớn Quản. Đây là vùng rộng lớn. Giành được chính quyền, tôi hỏi anh em nên cử ai làm chủ tịch. Anh em bảo nên cử người mới. Tôi đề xuất bác sĩ Hồ Văn Huê làm Chủ tịch Công ty Cao su Quản Lợi đồng thời làm Chủ tịch ủy ban Hớn Quản. Về sau anh làm công tác y tế ở Khu 7, Khu Sài Gòn - Chợ Lớn và trở thành một đảng viên cộng sản. Sau anh chuyển ra ngoài quân đội, làm Thứ trưởng Bộ Y tế. Mỗi lần ôn lại kỷ niệm về Cách mạng Tháng Tám, tôi tâm đắc một điều: Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta giỏi quá? Giỏi ở việc chọn thời cơ và chớp thời cơ phát lệnh khởi nghĩa. Thời điểm đó, ta phát lệnh khởi nghĩa sớm hơn là không được mà chậm hơn cũng không được. Vì nếu phát lệnh khởi nghĩa sớm hơn thì quân Nhật còn mạnh, chưa tuyên bố đầu hàng Đồng minh và sớm hơn nữa thì quân Nhật còn chưa bị đánh bại ở mặt trận châu Á - Thái Bình Dương. Nếu phát lệnh khởi nghĩa muộn hơn thì thời cơ sẽ qua đi, quân Đồng minh sẽ vào tước vũ khí quân Nhật sau khi Nhật đầu hàng. Vì vậy, không thể chậm trễ, phải giành chính quyền sau khi Nhật đầu hàng và trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương và Việt Nam. Thời gian thích hợp với điều kiện đó là nửa cuối tháng 8-1945. Nghị quyết Hội nghị toàn quốc của Đảng ngày 14 và 15-8-1945 khẳng định: Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới. Tình thế vô cùng khẩn cấp. Tất cả mọi việc đều phải tập trung, thống nhất, kịp thời hành động, không bỏ lỡ cơ hội.

Thành công của Cách mạng Tháng Tám đã nêu lên một mẫu mực về vấn đề tận dụng thời cơ, cơ hội thuận lợi, đồng thời chủ động vượt qua những khó khăn, thách thức, hạn chế tác động tiêu cực của nguy cơ. Giá trị lý luận và chính trị - thực tiễn đó đã được Đảng ta chú trọng vận dụng vào quá trình lãnh đạo cách mạng từ đó đến nay, nhất là trong sự nghiệp đổi mới.

Bài học về chọn thời cơ, chớp thời cơ của Cách mạng Tháng Tám cũng là bài học kinh nghiệm sâu sắc trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của tôi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG - CHƯƠNG 2 | Câu chuyện thời hoa lửa