Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG - CHƯƠNG 3, PHẦN 2

Đại tướng Lê Đức Anh (1920–2019), bí danh Sáu Nam, là nhà lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao của Việt Nam, từng giữ chức Chủ tịch nước thứ 4 (1992–1997). Ông là vị tướng dày dạn trận mạc, có vai trò quyết định trong Chiến tranh biên giới Tây Nam và là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1987-1991), người có công lớn trong bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ và đưa Việt Nam gia nhập ASEAN. Bài viết chia sẻ nội dung cuốn sách ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG Nhà xuất bản Chính trị Quốc g

Quảng Ninh29/03/2026Bùi Thị Thùy Linh (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Tiên Yên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tiếp theo kỳ trước

Hoàn cảnh chiến đấu của bộ đội và cán bộ các ngành dân, chính, đảng trong nửa đầu năm 1946 cực kỳ khó khăn. Tỉnh Thủ Dầu Một ruộng ít, rừng nhiều, lương thực tại chỗ không đủ ăn cho dân địa phương, lại bị địch càn quét, bắn giết, cướp của, phá hoại kinh tế nên càng khó khăn về đời sống sinh hoạt. Sau trận chúng tôi đánh vào quận lỵ Hớn Quản, đánh vào Xa Cam, Xa Cát, quân giặc đã lồng lộn quay lại đốt phá Tân Khai. Chính nơi đây, chúng đã chặt đầu đồng chí Chín thu và đổ hết gạo xuống giếng. Gạo ngâm nước sau mấy hôm vớt lên đã có mùi thối, nhưng anh em vẫn phải đem phơi cho ráo nước và nấu ăn.Trong những ngày cam go đó, công nhân cao su Hớn Quản, Dầu Tiếng đã bớt phần gạo ăn của mình và gia đình để nuôi bộ đội. Thật cảm động khi có những chị em phu cao su xin thuốc ký ninh, chủ đồn điền bắt phải uống tại chỗ, chị em giả bộ uống, sự thật thì chỉ ngậm sau đó ra ngoài nhả ra, đem về phơi khô gửi cho các chiến sĩ Đại đội 3 của chúng tôi. Tuy gặp nhiều khó khăn, gian khổ nhưng bộ đội vẫn kiên trì chịu đựng, tìm cách khắc phục để sống và chiến đấu. Trong hoàn cảnh ấy, các đơn vị đều quyết tâm đánh địch để cướp vũ khí tự trang bị cho ta, có lúc còn thu được cả lương thực và quân trang quân dụng. Anh em Đại đội 3 còn nhớ mãi hai trận chống càn tại xã An Tây (Bến Cát) làm nức lòng nhân dân địa phương, một trận diễn ra tháng 6 và một trận diễn ra tháng 8-1947, Đại đội 3 đã đánh tan hai đại đội địch, thu được nhiều vũ khí và có cả súng máy. Sau đó, cuối năm 1947 trận tiêu diệt "chiến khu quốc gia" Bình Quốc Tây của Chi đội 1 đã được ghi vào lịch sử.Đến cuối năm 1946, thực dân Pháp leo thang xâm lược, đưa chiến tranh ra toàn cõi Việt Nam. Pháp thực hiện kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh. Chúng chủ quan cho rằng với lực lượng hiện có thì một, hai năm có thể bình định xong Việt Nam. Nhân dân ta "nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"1, không có con đường nào khác là đứng lên kháng chiến bảo vệ độc lập, tự do. Ngày 19-12-1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ!Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng tại một địa bàn có đông công nhân, nhân dân lao động và đồng bào dân tộc thiểu số, cuối năm 1946, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một quyết định thành lập Quận ủy lâm thời Hớn Quản, tôi được phân công làm Bí thư Quận ủy lâm thời. Trong Ban Thường vụ còn có năm đồng chí: Ba Phước (Phó Bí thư), Chín Thành, Hai Lĩnh, Mười Canh, Mì. Kể từ đây, phong trào kháng chiến của vùng Lộc Ninh, Hớn Quản đã có sự lãnh đạo thống nhất của Quận ủy.Từ cuối năm 1946 đến cuối năm 1947, lực lượng vũ trang được bổ sung cho Nam Bộ là bộ đội hải ngoại. Đại bộ phận cán bộ, chiến sĩ các đơn vị này là con em Việt kiều ở Thái Lan, Lào và một số ở Campuchia tòng quân về nước cùng cùng bào Nam Bộ kháng chiến.Tháng 9-1947, Xứ ủy Nam Bộ chính thức quyết định thành lập Phòng Dân quân do đồng chí Lê Duẩn làm trưởng phòng.Chi đội 1 chúng tôi thường xuyên cử người đến các địa phương hướng dẫn, tập luyện cho dân quân, du kích và tự vệ. Những năm ấy, mối quan hệ giữa bộ đội, dân quân và tổ chức phụ nữ rất khăng khít. Bộ đội giúp dân quân huấn luyện quân sự, giúp phụ nữ tổ chức các lớp học chính trị - quân sự; còn phụ nữ đi vận động quyên góp quần áo, lương thực, thực phẩm, thuốc men cho bộ đội. Đến cuối năm 1947, toàn tỉnh Thủ Dầu Một đã xây dựng được nhiều đội du kích mạnh. Ngày 7-10-1947, thực dân Pháp tập trung 12.000 quân có đủ thủy, lục, không quân mở cuộc tiến công lớn lên Việt Bắc nhằm phá tan cơ quan đầu não kháng chiến và tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta.Cuối tháng 10-1947, Chi đội 1 cùng lực lượng vũ trang địa phương đã tổ chức một loạt trận giao thông chiến trên các chiến trường trong tỉnh, trong đó trận đánh ở Bến Ông Khương (ngày 30-10-1947) là trận đạt hiệu suất cao. Cùng ngày, Đại đội 902 (Chi đội 1) cùng du kích thị xã đánh quân tiếp viện cách chợ Thủ Dầu Một 5km, làm thiệt hại nặng một đại đội địch, phá hủy 2 đại bác, 2 thiết giáp.Mười tám ngày sau, quân Pháp mở rộng cuộc hành quân càn quét vào căn cứ Vĩnh Lợi - Bình Chánh, cũng là hậu cứ của Đại đội 1 (Chi đội 1). Chúng tiến công bao vây căn cứ. Chúng tôi tổ chức lực lượng Chi đội 1 gồm Đại đội 1, Đại đội 2 kết hợp cùng các đội du kích của các xã đánh địch, chống càn.Cuối năm 1947, Thủ tướng Chính phủ bù nhìn Nam Kỳ tự trị Lê Văn Hoạch tổ chức "Chiến khu quốc gia" bên bờ sông Sài Gòn. Nắm được ý đồ của địch, dựa vào cơ sở của ta trong tín đồ Cao Đài, Ban Chỉ huy Chi đội 1 đã cài cắm người vào đơn vị vũ trang của Lê Văn Hoạch tại chiến khu quốc gia trong đó có đồng chí Hoàng Của, Trưởng Ban Quân báo Chi đội 1. Đồng chí Hoàng Của đã nhanh chóng gây được cảm tình và được chúng tín nhiệm cử làm Tham mưu phó. Lực lượng của ta tổ chức cài cắm vào "Chiến khu quốc gia" (trong nhiều tháng liên tục) lên tới một đại đội.Đến ngày 10-12-1947, thời điểm diệt "Chiến khu quốc gia" đã chín muồi. Sau khi nghiên cứu, điều tra kỹ, một kế hoạch tác chiến tỉ mỉ của Ban Chỉ huy Chi đội 1 được thông qua. Đồng chí Hoàng Của xây dựng cơ sở và đưa người của ta vào. Dưới sự lãnh đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, đồng chí Lương Đường Minh và Trần Ngọc Lên tổ chức đơn vị chiến đấu xóa chiến khu Bình Quới Tây, bắt toàn bộ quân địch, sau đó ta thả hết. Quân ta thu toàn bộ súng đạn, giấy tờ và rút ra bờ sông, nơi có ghe thuyền của tổ liên lạc quân sự và của các má đang đón sẵn. Từ số chiến lợi phẩm của trận này, với lực lượng sẵn có, đủ để ta tổ chức thêm một đại đội nữa.Tại Hội nghị Xứ ủy mở rộng, trận đánh Bình Quới được đồng chí Lê Duẩn - Bí thư Xứ ủy và các đại biểu rất khen ngợi.Trong trận đánh Bình Quới, đồng chí Trần Ngọc Lên, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 là một trong những người có công lớn. Sau này anh nói với tôi muốn xin vào Đảng Cộng sản. Tôi bảo anh không nên vào Đảng lúc này, dễ bị lộ, địch dễ khủng bố, anh cứ ở trong hàng ngũ của Cao Đài thì sẽ có lợi cho cách mạng hơn. Anh đã nghe tôi. Sau này anh trở hành một chức sắc có tầm cỡ của Tòa thánh Cao Đài, đã đóng góp nhiều và có hiệu quả cho cách mạng.Thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 đã buộc thực dân Pháp phải thay đổi chiến lược chiến tranh từ đánh nhanh, thắng nhanh sang đánh lâu dài, quay lại bình định vùng chiếm đóng và lấn chiếm vùng tự do của ta. Nam Bộ trở thành vùng "bình định" trọng điểm của thực dân Pháp. Chúng đề ra chủ trương chiến lược là nhanh chóng tiến hành "bình định", biến Nam Bộ thành nơi dự trữ chiến lược cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và Đông Dương, thực hành lấy “chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt trị người Việt".Thực hiện chủ trương trên, chính quyền Pháp đã xúc tiến tăng cường thêm quân, điều chỉnh lực lượng, tập trung cho kế hoạch "bình định" Nam Bộ.Tỉnh Thủ Dầu Một vừa phát động phong trào "Thi đua ái quốc" vừa phổ biến rộng rãi tập sách Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi của Tổng Bí thư Trường Chinh, đã nâng cao được nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ và nhân viên trong tỉnh về cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện. Bộ đội và nhân dân tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Chính phủ. Niềm tin ấy trở thành sức mạnh trong hoạt động hằng ngày, trong xây dựng lực lượng cũng như chiến đấu.Hồi đó, đời sống của bộ đội chúng tôi do đồng bào nuôi. Dân làm nhà cho bộ đội ở. Chi đội 1 nổi tiếng là đơn vị chấp hành nghiêm kỷ luật, với khẩu hiệu "ba không": nhà cửa chưa dọn sạch - không được đi; nước chưa múc đầy ang - không được đi; chưa trồng cây, trồng rau để lại cho đồng bào - không được đi. Vì vậy nhân dân rất thương bộ đội. Thanh niên xung phong tòng quân giết giặc, nhiều em xin đầu quân vào Chi đội 1. Tỉnh ủy giao cho Chi đội 1 tổ chức Trường Thiếu sinh quân và thu nạp các em vào học tập, rèn luyện. Chính các lớp thiếu sinh quân này đã trở thành nguồn bổ sung lực lượng rất tốt cho các đơn vị chiến đấu và phục vụ chiến đấu.Tháng 7-2003, nhân dịp tôi vào thăm Quân khu 7, anh chị em đã tổ chức cuộc gặp mặt sau 56 năm, có đại diện của năm trung đoàn thiếu sinh quân miền Đông Nam Bộ thời kỳ chống thực dân Pháp. Nhiều anh chị em đã cùng tôi đi suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ, hết đánh Pháp lại đánh Mỹ. Cũng không ít đồng chí còn cùng tôi làm nhiệm vụ quốc tế 10 năm trên đất Campuchia. Nhiều đồng chí đã trở thành Dũng sĩ diệt Mỹ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, thành cán bộ cao cấp trong và ngoài quân đội. Cuộc gặp mặt thật đầm ấm và xúc động. Anh chị em cùng ôn lại cái thời gian khổ, thiếu thốn.. Miền Đông hiếm gạo, anh em phải lặn lội xuống miền Trung Nam Bộ để mua gạo cõng lên. Nhân dân và một số sư sãi nhà chùa cũng quyên góp tiền, tìm mọi cách mua gạo gửi vô cho bộ đội. Anh em đói, rách, ghẻ lở đầy người, chị vợ anh Huỳnh Kim Trương chuyên nấu nước lá khế cho anh em tắm, trị ghẻ nên đơn vị gọi là "Chị Hai lá khế". Anh chị em còn kể lại, lúc mới về đơn vị được bộ đội dạy cho cách gác, cách chống càn và tổ chức đội hình tác chiến ra sao, cảnh giác thế nào mà Chi đội 1 không bao giờ bị tập kích bất ngờ. Hồi đó, đi đánh giặc thì tổ chức "liên quân" bộ đội và dân quân du kích, tự vệ, ở nhà là lực lượng "quốc vệ dân" - quốc là quốc vệ đội, tức công an, dân là dân quân du kích - hai lực lượng này lo bảo vệ chính quyền. Rồi anh em ôn lại các trận phục kích gọi là "giao thông kinh tế chiến", đánh các đoàn xe convoy (công voa) của Pháp để lấy lương thực.Trên cơ sở cuộc chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích trong tỉnh phát triển cao, Chi đội 1 trở thành chi đội mạnh cả về chính trị, tư tưởng, lực lượng trang bị, vũ khí cũng như kinh nghiệm và khả năng chiến đấu. Quân số Chi đội 1 phát triển lên 1.500 người, 1.350 súng trường, 28 tiểu liên, 18 trung liên, 10 đại liên. Trong quá trình chiến đấu, chiến lợi phẩm như súng đạn, quân trang quân dụng Chi đội thu được, ngoài trang bị cho các đơn vị trong Chi đội, Ban Chỉ huy Chi đội còn hỗ trợ các xã chiến đấu.Giữa tháng 3-1948, giặc Pháp mở một cuộc càn lớn vào chiến khu Thuận An Hòa, bộ đội Đại đội 1 Chi đội 1 cùng với du kích các xã Tân Phước Khánh, Thái Hòa, Bình Chuẩn, An Phú, Thuận Giao, Hòa Lâm đã anh dũng chiến đấu. Địch có quân đông, trang bị mạnh quyết bao vây để tiêu diệt lực lượng kháng chiến. Nắm được chỗ yếu của địch, trên cơ sở tác chiến của du kích, Tiểu đoàn 1, Chi đội 1 đã tổ chức một trận đánh vào ban chỉ huy hành quân của địch, làm phá sản cuộc hành quân của địch.Đầu năm 1948, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ ra chỉ thị xây dựng các trung đoàn bộ đội tập trung trên toàn xứ. Ngày 27-3-1948, Khu ủy Khu 7 họp hội nghị thảo luận việc xây dựng các trung đoàn trên địa bàn miền Đông Nam Bộ. Hội nghị quyết định trên cơ sở các chi đội sẵn có, phát triển thành 10 trung đoàn. Địa bàn hoạt động của trung đoàn vẫn chủ yếu trong phạm vi của tỉnh. Ngày 14-6-1948, Chi đội 1 của Thủ Dầu Một được đổi tên là Trung đoàn 301 do anh Huỳnh Kim Trương làm Trung đoàn trưởng, tôi làm Chính trị viên. Trung đoàn biên chế thành ba tiểu đoàn và một số đại đội trực thuộc: Đại đội 1 thành Tiểu đoàn 901 hoạt động ở vùng Lái Thiêu, Thủ Dầu Một; Đại đội 2 thành Tiểu đoàn 902 hoạt động ở quận Châu Thành; Đại đội 3 thành Tiểu đoàn 903 với ba Đại đội 2707, 2708, 2709 hoạt động ở Bến Cát, Hớn Quản, Lộc Ninh.Từ những đơn vị lẻ, đến giữa năm 1948, trên chiến trường miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ đã hình thành hệ thống các trung đoàn bộ binh chủ lực, nhưng thực tế đó là những trung đoàn bộ binh địa phương.Tháng 6-1948, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gởi điện vào công nhận Ban Quân sự Nam Bộ và cử Trung tướng Nguyễn Bình giữ chức ủy viên quân sự. Tháng 10-1948, Bộ Tư lệnh Nam Bộ được thành lập thay cho Ban Quân sự Nam Bộ, do Trung tướng Nguyễn Bình làm Tư lệnh. Nam Bộ có Khu 7, Khu 8, Khu 9 và Khu Sài Gòn - Chợ Lớn.Tháng 12-1948, Bộ Chỉ huy Khu 7 và Khu Sài Gòn - Chợ Lớn đổi lên là Bộ Tư lệnh khu. Các khu chấn chỉnh lại một bước nhân sự và tổ chức các cơ quan. Khu 7 do Huỳnh Văn Nghệ làm Tư lệnh, Nguyễn Văn Trí (tức Hai Trí) làm Chính ủy; Khu Sài Gòn - Chợ Lớn do Tô Ký làm Tư lệnh, Phan Trọng Tuệ làm Chính ủy, tôi làm Tham mưu trưởng.Ngày 18-8-1949, Thường vụ Trung ương Đảng chỉ thị: "Xây dựng bộ đội địa phương và phát triển dân quân" trong cả nước. Tháng 9-1949, Xứ ủy Nam Bộ triệu tập Hội nghị quân sự Nam Bộ nhằm quán triệt chỉ thị trên và tiến hành kiểm điểm toàn diện công tác kháng chiến trong bốn năm qua, đồng thời đề ra nhiệm vụ trong thời gian tới. Hội nghị có đoàn phái viên của Trung ương, dẫn đầu là anh Lê Đức Thọ vào dự. Trong phát biểu, anh Lê Đức Thọ khen rất ít mà phê phán dữ lắm. Toàn hội nghị không ai nói gì hết. Anh Lê Duẩn lên phát biểu đã nhận hết khuyết điểm và phân tích sâu thêm về yếu tố khách quan, chủ quan, trong đó rõ nhất là tư tưởng quân sự đơn thuần, coi nhẹ vai trò của dân quân du kích, mối quan hệ giữa ba thứ quân và vạch ra phương hướng, nhiệm vụ thiết thực trước mắt để đưa cuộc kháng chiến ở Nam Bộ tiếp tục tiến lên hòa nhịp với chiến trường cả nước. Anh Thọ còn phê phán tư tưởng coi nhẹ đô thị và đề nghị tiếp tục cử anh Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc) vào xây dựng phong trào và xây dựng lực lượng ở Sài Gòn.Sau Hội nghị, Bộ Tư lệnh Nam Bộ đã tổ chức phân bố lại chiến trường, củng cố nhân sự chủ chốt ở cấp khu và cấp tỉnh. Khu 7 còn lại ba tỉnh: Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Bà Rịa do đồng chí Huỳnh Văn Nghệ làm Tư lệnh, đồng chí Phan Trọng Tuệ làm Chính ủy. Khu Sài Gòn - Chợ Lớn gồm Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định và Tây Ninh do đồng chí Trần Văn Trà làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, tôi làm Tham mưu trưởng.Bước sang năm 1950, tình hình trong và ngoài nước có những chuyển biến rất quan trọng. Cách mạng Trung Quốc thành công năm 1949. Trung Quốc, Liên Xô và một loạt nước dân chủ nhân dân công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ ta. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta trên phạm vi cả nước sang trên đà phát triển. Thực dân Pháp ngày càng lúng túng. Đế quốc Mỹ ra sức tìm cách giúp đỡ thực dân Pháp và can thiệp trực tiếp vào Đông Dương.Tại chiến trường Nam Bộ có một số thay đổi về tổ chức chỉ huy. Trung tướng Nguyễn Bình - Tư lệnh Nam Bộ - được điều động ra Trung ương. Trên đường hành quân, bị địch phục kích, đồng chí đã hy sinh. Đồng chí Lê Duẩn - Bí thư Xứ ủy – trực tiếp giữ chức Chính ủy kiêm Tư lệnh Nam Bộ, đồng chí Dương Quốc Chính làm Phó Tư lệnh. Thực hiện sự lãnh đạo qua Xứ ủy và Bộ Tư lệnh Nam Bộ, tại khắp các tỉnh miền Đông. Ta tổ chức một đợt hoạt động quân sự - chính trị trên cả ba vùng kháng chiến. Các căn cứ kháng chiến được xây dựng tương đối ổn định trở thành hệ thống hậu phương tại chỗ đáp ứng được phần lớn nhu cầu của cuộc kháng chiến.Tại thành phố Sài Gòn và các thị xã, thị trấn, ta chủ trương mở rộng phong trào đấu tranh chính trị trong toàn thể công nhân, học sinh, sinh viên và các tầng lớp nhân dân đô thị, hướng mục tiêu đấu tranh vào chống chính phủ bù nhìn và chống thực dân Pháp.Giai đoạn này ở Nam Bộ, thực dân Pháp áp dụng chiến thuật De Latour (Đờ Latua) một cách ráo riết, triệt để. De Latour là một vị tướng có kinh nghiệm về bình định lãnh thổ được điều sang Việt Nam, sau khi nghiên cứu, y đã đề ra sách lược gồm năm điểm: Một là, rút bỏ những khu vực hẻo lánh khó cầm giữ. Hai là, dùng giáo dân vũ trang để chống phá kháng chiến của Việt Minh. Ba là, hợp tác với các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo để chống phá kháng chiến của Việt Minh. Bốn là, dùng chiến thuật đồn bốt tháp canh. Năm là, bao vây căn cứ địa Đồng Tháp Mười, căn cứ Chiến khu Đ của Việt Minh kiểm soát vùng kinh tế trù phú Hậu Giang. Nội dung, bản chất của chiến thuật đồn bốt tháp canh là tổ chức phòng vệ vững chắc các trục lộ giao thông và vùng kinh tế quan trọng, tạo thành một hệ thống đồn bốt, tháp canh theo ô vuông để vừa bảo vệ vững chắc các trục giao thông và địa bàn chiếm đóng, vừa chia cắt, khống chế các hoạt động của Việt Minh. Chúng thường xây tháp canh hình vuông bằng gạch, mỗi canh 4 đến 5 mét, cao 8 đến 10 mét. Xung quanh có tường bao bằng đất dày, có lỗ châu mai, bên ngoài đào hào và rào dây kẽm gai, gài chông mìn, nuôi chó dữ và thả ngỗng. Cứ 5 đến 7 tháp canh con lại có một tháp canh mẹ. Tháp canh mẹ được xây kiên cố hơn, xung quanh phạm vi phòng thủ có lô cốt chiến đấu, ở giữa có lô cốt chỉ huy. Mỗi tháp canh, chúng bố trí từ một tổ đến một tiểu đội bộ binh tăng cường, trang bị vũ khí đầy đủ. Riêng tháp canh mẹ có thêm vũ khí bắn cầu vồng và trang bị máy truyền tin. Từ hệ thống tháp canh này kết hợp với những đội lính cơ động (Commando - Commăngđô), chúng quản lý chặt chẽ các đô thị, các khu kinh tế quan trọng và các trục đường giao thông huyết mạch. Chúng cũng lấy hệ thống đồn bốt, tháp canh làm căn cứ xuất phát để tổ chức những cuộc hành quân càn quét và lấn chiếm nông thôn, đánh phá vùng tự do và căn cứ kháng chiến của ta.Bộ Tư lệnh Khu Sài Gòn - Chợ Lớn quyết tâm tìm mọi biện pháp để phá chiến thuật De Latour, phải tìm ra cách tiêu diệt tháp canh. Trước đó, đêm 19-3-1948, tổ du kích Tân Uyên do đồng chí Trần Công An chỉ huy đã diệt tháp canh Cầu Bà Kiên bằng phương pháp bí mật đột nhập, dùng thang leo lên thả lựu đạn vào trong tháp. Trận đánh thu được thắng lợi, nhưng sau đó bọn địch tăng cường đề phòng canh gác nên rất khó tiếp tục dùng thang leo lên. Lúc đầu ta dùng lối đánh của đồng chí Trần Công An để diệt tháp canh, kết hợp đưa dân quân ra phá đường và đã phá được. Sau địch dùng pháo lớn bắn ra, dân quân không phá được nữa.Ngày 21-1-1950, Bộ Tư lệnh Khu Sài Gòn - Chợ Lớn quyết định mở chiến dịch Dầu Tiếng - Bến Cát. Ban chỉ huy chiến dịch gồm: Tô Ký - Chỉ huy trưởng, tôi - Tham mưu trưởng. Sở chỉ huy đặt tại Thanh Tuyền (đầu chiến dịch) và An Thành (cuối chiến dịch). Mục đích của chiến dịch là mở rộng và nối liền hai căn cứ của ta từ Gia Định sang Thủ Dầu Một, cắt đường vận tải và tiếp tế ở Dầu Tiếng, tiêu diệt và tiêu hao địch, bổ sung lực lượng ta. Mục tiêu của chiến dịch nhằm tiêu diệt các đoàn convoy và lực lượng tiếp viện của địch, tiêu diệt đồn Bến Súc, phá đường sá, phá cầu, bao vây bức rút các đồn, tháp canh còn lại (Bến Cát, Suối Dứa, Cần Nôm, Ông Cộ, Xi Nô, Rạch Kiến, Xóm Bưng). Ban chỉ huy phân công công tác chuẩn bị về đạn dược, lương thực, thực phẩm, y tế,... phải đầy đủ cả số lượng và chất lượng trước ngày nổ súng. Ngày mở màn chiến dịch được ấn định: ngày 15-1-1950. Đến ngày 24-1-1950, mọi chuẩn bị cho chiến dịch đã hoàn tất.Lực lượng tham gia chiến dịch gồm một tiểu đoàn chủ lực của liên Trung đoàn 306 - 312, một tiểu đoàn chủ lực và một đại đội độc lập của liên Trung đoàn 301 - 310, một đại đội độc lập của huyện Bến Cát, lực lượng dân quân du kích hai huyện Hóc Môn, Gò Vấp và lực lượng công đoàn cao su đồn điền Dầu Tiếng.Chiến dịch Dầu Tiếng - Bến Cát thực chất là đợt hoạt động quân sự trong ba ngày (từ ngày 25 đến 27 tháng 1) đã làm gián đoạn giao thông của địch trong một thời gian dài (địch phải dùng máy bay tiếp tế cho đồn điền cao su Dầu Tiếng). Quân địch buộc phải bị động đối phó. Đợt hoạt động đã để lại những kinh nghiệm thiết thực cho quá trình chiến đấu về sau. Nó là cuộc diễn tập quan trọng cho chiến dịch Bến Cát diễn ra vào cuối năm khá thành công.Tại chiến dịch này, tôi nhớ mãi một chuyện là trong đồn Rạch Kiến có một khẩu pháo cỡ lớn bắn ra rất dữ làm cho bộ đội và dân quân không thực hiện được nhiệm vụ phá đường giao thông. Chúng tôi cùng với bộ đội bàn bạc để tìm ra cách phá khẩu pháo lớn này. Anh em thấy rất khó, vì nếu bí mật vượt tường và hàng rào bao quanh đồn để vào tận nơi đặt khẩu pháo thì sẽ bị ngỗng và chó dữ chúng nuôi trong đồn phát hiện. Cuối cùng, cậu Nguyễn Văn Rỡ nghĩ ra một cách là: Cậu ta tắm xong để trần nằm phơi sương cho bay mất hơi người. Quả nhiên khi bò vào đồn, chó, ngỗng không thấy hơi lạ nên không phát hiện được. Vào bên trong, tìm được khẩu pháo 15 ly, rỡ bốc cát sỏi bỏ vào nòng pháo. Quân ta tổ chức đốt đuốc reo hò và phá đường để khiêu khích địch. Chúng liền báo động lính ra vị trí chiến đấu và hùng hổ cho nạp đạn vào khẩu pháo rồi giật cò, khẩu pháo bị hỏng. Từ kinh nghiệm đầu tiên này, đồng chí Thuần, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 302 cho tổ chức huấn luyện để nhân rộng. Sau đó, anh em đã nghĩ ra cách lấy lén hoặc nhờ chị em đến chỗ bọn lính thuê giặt ủi để mua lại quần áo cũ của chúng. Như vậy, anh em không phải cởi trần phơi sương đêm nữa. Khi anh em đột nhập vào đồn, chó dữ thấy mùi quen thuộc của lính thì không sủa. Cũng từ sáng kiến của cậu Rỡ, anh em còn nghĩ ra cách bơi không tiếng động, dùng ống thở và đậy lá lên mặt để bí mật vượt qua trạm gác của địch. Bộ đội ta đã đưa được thuốc nổ vào phá cầu Bến Cát. Tuy cầu không sập hoàn toàn, nhưng đã làm cho xe cơ giới của địch không đi được. Đó là sáng kiến thứ hai tại chiến dịch này.Việc thứ ba là, anh em đánh sập được bốt tiền tiêu của đồn Bến Súc bằng cách thoạt đầu dùng đạn lõm thổi thành một lỗ thủng thành lô cốt (loại đạn do đồng chí Tâm - kỹ sư cơ khí học từ bên Pháp về, tham gia kháng chiến chế tạo ra), sau đó lao gậy có buộc bộc phá ở đầu gậy vào đồn, bộc phá nổ đã làm sập bốt, bọn lính trong bốt bị chết nhiều. Nhưng khi anh em bộ binh xung phong vào đánh đồn thì không giải quyết được và xung lực của ta yếu, mặc dù đặc công đã đánh chiếm đầu cầu. Ở trận này cậu Ty, Đại đội trưởng hy sinh (Ty là con trai đồng chí Cứng, lái xe của đồn điền cao su Lộc Ninh, một trong bốn người mà tôi đã giác ngộ cách mạng và kết nạp vào Đảng Cộng sản đầu tiên của chi bộ cao su). Sau trận này, ta tổ chức rút kinh nghiệm. Chính vì vậy mà khi tổ chức đánh đồn Bùng Binh phía bên kia sông Sài Gòn, ta dùng hai mũi đặc công mở hai cửa, đồng loạt xông vào nên đã chiếm gọn được đồn và bắt sống toàn bộ quân địch.Từ cách đánh tháp canh của tổ đồng chí Trần Công An, cách làm mất hơi người để bí mật đột nhập vào đồn địch của Nguyễn Văn Rỡ, cách dùng đạn lõm và bộc phá để diệt lô cốt đầu cầu, đến cách dùng hai mũi đặc công cùng tiến hành mở hai cửa mở cho trận đánh đồn, tuy lúc đầu còn sơ lược, nhưng đã hình thành và mở ra cách đánh mới mà sau này gọi là "cách đánh đặc công". Đây là sáng kiến, là công lao của anh em, trong đó có vai trò tổ chức của đồng chí Phạm Quang Thuần - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 302. Sau khi tập dượt kỹ, chúng tôi cho đánh thử vào đồn địch, và đã thắng lợi gọn gàng. Tại hội nghị tổng kết chiến dịch Bến Cát, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Xứ ủy, đã nói: "Chiến dịch Bến Cát đánh dấu một bước trưởng thành quan trọng của lực lượng vũ trang Khu 7, đưa phong trào kháng chiến của quân dân miền Đông Nam Bộ hòa nhập với cuộc kháng chiến trên chiến trường cả nước"1.Sau chiến dịch Dầu Tiếng - Bến Cát, tôi được bổ nhiệm làm Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Anh Nguyễn Đăng, vốn là kỹ sư canh nông, làm Tham mưu trưởng bảo tôi rằng, anh lo cái chung, còn tôi lo về tác chiến.---------------------------------------------------------------1. Hội đồng Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Đảng bộ miền Đông Nam Bộ: Lịch sử Đảng bộ miền Đông Nam Bộ lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975), Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội 2003, tr.132.Tháng 8-1950, chấp hành nghị quyết của Xứ ủy Nam Bộ, việc tổ chức, chỉ huy chiến trường toàn Nam Bộ được phân chia, sắp xếp lại.Khu Sài Gòn - Chợ Lớn và Khu 7 sáp nhập lại lấy tên là Khu 7, gồm các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Gia Định, Chợ Lớn, Tây Ninh. Đồng chí Hoàng Dư Khương làm Bí thư Khu ủy. Bộ Tư lệnh Khu đóng ở chiến khu Long Nguyên do đồng chí Trần Văn Trà làm Tư lệnh kiêm Chính ủy.Tháng 3-1951, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (khóa II) quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam gồm các ủy viên Trung ương hoạt động ở Nam Bộ 1 để căn cứ vào các nghị quyết của Trung ương và Bộ Chính trị mà cụ thể hóa việc chỉ đạo công tác cho Nam Bộ và bộ phận Đảng Lao động Việt Nam ở Campuchia. Bí thư Trung ương Cục miền Nam là đồng chí Lê Duẩn; đồng chí Lê Đức Thọ là Phó Bí thư.Tháng 5-1951, Trung ương Cục quyết định phân chia lại chiến trường, giải thể ba khu 7, 8, 9, sáp nhập 20 tỉnh của Nam Bộ thành 11 tỉnh ghép, chia Nam Bộ thành hai phân liên khu (lấy sông Tiền Giang làm ranh giới) và Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Phân liên khu miền Đông gồm 5 tỉnh (11 tỉnh cũ): Gia Ninh, Thủ Biên, Bà Chợ, Mỹ Tho, Long Châu Sa. Các đồng chí Trần Văn Trà làm Tư lệnh, Phạm Hùng làm Chính ủy, tôi làm Tham mưu trưởng Phân liên khu. Phân liên khu miền Tây gồm 6 tỉnh: Bến Tre, Vĩnh Trà, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Long Châu Hà.Sang năm 1952, địch tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách "bình định". Ở miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ, chúng thực hiện bao vây và lấn sâu vào vùng căn cứ của ta, chiếm đóng các khu vực tranh chấp, các vùng du kích, đồng thời tích cực càn quét "bình định" để củng cố cơ sở kinh tế, chính trị, quân sự và các đường giao thông quan trọng.Tháng 12-1952, anh Lê Duẩn chỉ thị cho tôi chuẩn bị tổ chức một đoàn cán bộ đi từ Nam Bộ ra Trung ương họp, kết hợp báo cáo kinh nghiệm đánh đồn và diệt tháp canh của địch. Tôi chọn 12 người đi cùng đoàn cán bộ do anh Lê Duẩn dẫn đầu. Lúc đó đã có lương khô, nhưng mỗi người phải cõng 20kg gạo để ăn dọc đường. Riêng anh Trần Công An xung phong mang 30kg. Đây là lần đầu tiên tôi được vượt dãy Trường Sơn để ra đất Bắc. Thực hiện chỉ đạo của anh Lê Duẩn, khi qua Khu 6 và Khu 5 chúng tôi để lại mỗi khu một tổ ba người để phổ biến kinh nghiệm và cùng bộ đội của Khu thực hành đánh đồn luôn. Dọc đường mòn xuyên dãy Trường Sơn, tôi thấy bộ đội và dân công ta khổ lắm. Dân công gùi súng, đạn, gạo tiếp tế cho Khu 5, có người bị bom, có người bị sốt rét ác tính chết gục bên bao gạo, bên súng đạn. Anh em trong đoàn chúng tôi cũng bị sốt rét triền miên. Lúc sốt nặng quá, cả đoàn phải nghỉ lại giữa đường bảy ngày. Đi ròng rã năm tháng, ngày 13-5-1953, chúng tôi ra tới Tân Trào, Tuyên Quang, giữa căn cứ địa Việt Bắc. Anh Hoàng Văn Thái ra đón chúng tôi. Đoàn chúng tôi có cả anh Tâm - kỹ sư - ra để báo cáo kinh nghiệm chế tạo đạn lõm.Tại Việt Bắc, chúng tôi gặp anh Đỗ Mười - Bí thư Khu ủy Khu Tả Ngạn sông Hồng, anh Văn Tiến Dũng - Tư lệnh kiêm Chính uỷ Đại đoàn 320 (đơn vị đang chiến đấu ở đồng bằng Bắc Bộ), được nghe các anh kể chuyện chiến đấu, mở rộng vùng giải phóng ở đồng bằng Bắc Bộ, tổ chức đưa người cùng vận chuyển gạo, muối và vật chất từ vùng tự do ở đồng bằng Bắc Bộ qua hệ thống boong ke của địch lên chiến khu Việt Bắc. Còn chúng tôi thì kể cho các anh nghe về cuộc chiến đấu của quân và dân ta ở Nam Bộ.Chúng tôi được các anh đưa lên gặp Bác Hồ, báo cáo với Bác về cách đánh đồn giặc của bộ đội Nam Bộ. Hôm đó có anh Nguyễn Văn Tạo và anh Tố Hữu cùng nghe. Nghe xong, Bác khen và bảo anh Tố Hữu hãy làm bài thơ để biểu dương bộ đội Nam Bộ. Sau đó, chúng tôi ở lại dự lớp học chính trị mà lúc đó gọi là "Lớp chỉnh đảng" cho cán bộ, do anh Lê Văn Lương phụ trách.Ngày 23-6-1953, lớp học được Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và huấn thị cho cán bộ lớp học. Học xong, chúng tôi viết thu hoạch. Sau đó, chúng tôi được hướng dẫn viết bản “lý lịch tự thuật". Đây là lần đầu tiên trong đời tôi được khai báo về thành phần xuất thân và cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Khi xem bản lý lịch của tôi, anh Lê Văn Lương và anh Nguyễn Chí Thanh đều nhận xét: "Lý lịch rõ ràng!".Tháng 12-1953, chúng tôi trở vào Nam Bộ. Trước khi trở về Nam Bộ, chúng tôi được gặp Bác Hồ. Bác căn dặn các chú đi đường phải rất cẩn thận, đừng để lọt vào ổ phục kích của địch. Và Bác gửi lời thăm đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ. Chúng tôi cũng đi theo đường Trường Sơn, mỗi người ngoài việc cõng 20kg gạo, còn phải mang thêm chừng 1 kg tài liệu. Đoàn chúng tôi trở vào còn bốn người: tôi và các anh Trần Công An, Nguyễn Văn Được, Lê Thanh. Dọc đường đi, chúng tôi dừng lại ăn Tết Nguyên đán Giáp Ngọ với Bộ Tư lệnh Khu 5. Vào tới Bình Định gặp quân địch đi càn, chúng tôi phải kẹt ở đó mấy ngày. Sau đó chúng tôi đi khoảng hơn chục ngày nữa thì về tới chiến khu Dương Minh Châu.Đang trên đường vào thì ngoài Bắc diễn ra chiến dịch Điện Biên Phủ. Hòa cùng tiếng súng của chiến dịch Điện Biên Phủ, các lực lượng vũ trang Nam Bộ tiếp tục tiến công địch, giành quyền chủ động trên toàn chiến trường.Ngày 7-5-1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc toàn thắng. Tin thắng trận bay nhanh lên khắp chiến trường, các vùng kháng chiến Nam Bộ. Quân và dân Nam Bộ đánh địch với khí thế mới. Bộ đội liên tục bao vây diệt đồn bốt. Nhân dân vùng lên phá banh hệ thống kìm kẹp, giải phóng xã, ấp. Cùng với hoạt động quân sự, phong trào đấu tranh chính trị phát triển trong nội đô; phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ chưa từng có. Trước sức tiến công cả quân sự và chính trị của ta, quân địch co lại.Ngày 21-7-1954, Hiệp định Geneva (Giơnevơ) về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết. Pháp phải công nhận nửa nước Việt Nam được giải phóng.Sau 60 năm nhìn lại, kể từ khi trận Điện Biên Phủ và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, chúng ta thấy có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân lớn nhất, bao trùm nhất là đường lối chiến tranh nhân dân. Tư duy chiến lược của đường lối chiến danh nhân dân bắt đầu hình thành từ Chỉ thị toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng (ngày 12-l-1946), lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngày 19-12-1946) và một loạt bài viết của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh đã trở thành những quan điểm cơ bản về đường lối kháng chiến của Đảng ta – "Kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh", "lấy sức ta giải phóng cho ta". Nhờ đó, quân và dân ta trên khắp mọi miền đất nước đã bình tĩnh, hành động nhất tề và sớm tạo được lòng tin vào tiền đồ tất thắng của kháng chiến.Chính trên nền tảng của đường lối quân sự đúng mà suốt chín năm kháng chiến, chúng ta vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng, từ không đến có, từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn; xây dựng tiềm lực quân sự mạnh trên cơ sở xây dựng lực lượng chính trị rộng khắp, vững chắc, nên càng đánh giặc, thế ta càng vững, lực ta càng mạnh.Cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện của ta còn được gây dựng và phát huy ngay trong vùng địch tạm chiếm với nhiều phương thức đấu tranh. Trong đô thị đều có lực lượng của ta hoạt động mạnh, nhất là Sài Gòn. Tại vùng đô thị lớn Sài Gòn - Gia Định, phong trào diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ ớ từng thời điểm, từng nơi đã diễn ra. Những cuộc biểu tình của nhân dân lao động thợ thuyền, trí thức ở những quy mô khác nhau diễn ra, mà điển hình là cuộc biểu tình nổ ra giữa Sài Gòn ngày 19-3-1950 của hàng chục vạn người chống thực dân Pháp xâm lược và nghe luật sư Nguyễn Hữu Thọ diễn thuyết5. Chiến dịch Biên giới cuối năm 1950, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 8 tiểu đoàn địch (với hơn 8.000 quân); thu hơn 3.000 tấn vũ khí, phương tiện chiến tranh; phá vỡ hệ thống phòng ngự trên đường 4 của địch; giải phóng 5 thị xã, 13 thị trấn với 35 vạn dân; củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, nối liền nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa. Chiến dịch Điện Biên Phủ (do Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Chỉ huy trưởng, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái là Tham mưu trưởng, Cố vấn Vi Quốc Thanh) là trận then chốt, đã buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Geneva về Đông Dương, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trên chiến trường miền Nam có những trận đánh tiêu biểu như: quân và dân tỉnh Phú Yên đánh bại chiến dịch Atlante (Átlăng) của thực dân Pháp (tháng 2-1954) bắt sống cả một binh đoàn địch; trận đánh của Tiểu đoàn 306 Gia Ninh phá hủy kho bom đạn dự trữ chiến lược của địch ở Phú Thọ Hòa, với hơn 1 triệu lít xăng dầu, 1 vạn tấn bom đạn, diệt một đại đội lính Âu - Phi, bức rút đồn Gò Lũy tháng 6-19546.Với chiến lược toàn dân kháng chiến, Đảng ta đã tổ chức cả nước thành một mặt trận. Khắp Trung, Nam, Bắc, toàn quân, toàn dân đánh giặc. Nhờ sức mạnh tổng hợp của toàn dân đánh giặc, vừa đánh giặc, vừa sản xuất nên đã bảo đảm cho nhân dân sống, chiến đấu và nuôi bộ đội chiến đấu. Nhờ toàn dân kháng chiến, quân đội ta từ du kích, phân tán, trang bị thô sơ đã tiến lên tập trung, chính quy, có lực lượng cơ động chiến lược mạnh và lực lượng chiến đấu tại chỗ đông đảo. Nhờ toàn dân kháng chiến nên mặc dù ta ở trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc, nhưng chính quyền nhân dân vẫn đứng vững, ngày càng phát huy vai trò quản lý, điều hành mọi công việc kháng chiến, kiến quốc. Toàn dân kháng chiến là yếu tố quyết định thắng lợi, là quy luật cơ bản của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thực tế, địch mạnh hơn ta về quân sự, nhưng rất yếu về chính trị. Ta dùng sức mạnh tổng hợp (quân sự, chính trị, ngoại giao, binh vận) và phát huy sức mạnh tổng hợp một cách liên tục, còn địch phải đánh lâu dài nên không chịu nổi. Hơn nữa, Đảng Cộng sản Pháp và nhân dân Pháp ngày càng phản đối mạnh mẽ việc chính quyền Pháp đem quân xâm lược Việt Nam.Bộ Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương không thể ngờ được, với cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện của ta, cả nước đánh giặc, cả nước dồn sức cho chiến dịch Điện Biên Phủ với nỗ lực cao nhất cả nước gồng lên nhưng uyển chuyển, nhịp nhàng đã tạo nên sức mạnh phi thường cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng toàn thắng.Chúng ta chiến đấu vì độc lập, tự do, vì chính nghĩa. Chúng ta luôn trân trọng sự phối hợp tác chiến của quân và dân Lào, Campuchia anh em; luôn ghi nhớ, biết ơn sự giúp đỡ to lớn, có hiệu quả của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có Đảng Cộng sản và nhân dân Pháp. Kinh nghiệm đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược đã được toàn Đảng, toàn dân ta vận dụng và phát triển phong phú hơn trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn