Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG - CHƯƠNG 9 PHẦN 3

Đại tướng Lê Đức Anh (1920–2019), bí danh Sáu Nam, là nhà lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao của Việt Nam, từng giữ chức Chủ tịch nước thứ 4 (1992–1997). Ông là vị tướng dày dạn trận mạc, có vai trò quyết định trong Chiến tranh biên giới Tây Nam và là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1987-1991), người có công lớn trong bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ và đưa Việt Nam gia nhập ASEAN. Bài viết chia sẻ nội dung cuốn sách ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG Nhà xuất bản Chính trị Quốc g

Quảng Ninh29/03/2026Bùi Thị Thùy Linh (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Tiên Yên)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 30-4-1977, quân Pol Pot tấn công tuyến biên giới Quân khu 9, đến tháng 8 tấn công tuyến Quân khu 7 và tháng 10 tấn công tuyến Quân khu 5. Chúng thực hiện chính sách giết sạch, đốt sạch, phá sạch, tàn sát cực kỳ dã man đồng bào ta ở biên giới. Chúng kết hợp đánh ta ở bên ngoài biên giới với thanh trừng nội bộ bên trong.Về phía ta, các tỉnh, các quân khu phía Nam bị động về sẵn sàng chiến đấu, biên giới bỏ ngỏ do ta giảm quân số và thiếu cảnh giác, nên không hoàn thành nhiệm vụ. Trước hành động xâm lược của bọn Pol Pot, ta vừa phải đối phó với cuộc tấn công của địch, vừa tiến hành xây dựng lực lượng và xây dựng tuyến phòng thủ biên giới. Thực hiện nhiệm vụ chiến lược chung, lực lượng bộ đội thường trực của Quân khu 9 được khôi phục lại biên chế, quân số thực hiện sẵn sàng chiến đấu. Bộ đội địa phương các tỉnh biên giới và nội địa được gấp rút ổn định lại tổ chức biên chế, sáp nhập các tiểu đoàn để xây dựng tiểu đoàn chiến đấu mạnh, chuyển các tiểu đoàn khung huấn luyện thành tiểu đoàn chiến đấu. Mỗi tỉnh có một đại đội pháo, một đại đội biên phòng. Mỗi huyện có một đại đội, mỗi xã có từ một đến hai tiểu đội du kích tập trung.

Để đáp ứng yêu cầu chỉ huy tác chiến, ngày 31-5-1977, Bộ Tổng Tham mưu quyết định tổ chức Văn phòng Bộ và Cục Tác chiến thường trực tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm tăng cường sở chỉ huy của Bộ ở phía Nam. Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo tăng cường lực lượng cho các quân khu 5, 7, 9, bố trí lại hệ thống hỏa lực mặt đất và phòng không, động viên bộ đội sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết giáng trả khi quân Pol Pot xâm phạm biên giới.Từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 6-1977, trên tuyến biên giới do Quân khu 9 phụ trách, địch lại tiếp tục tiến công từ An Giang đến Kiên Giang, xâm lấn từ Xà Xía (Hà Tiên) đến xã Vĩnh Điều (Kiên Lương) của tỉnh Kiên Giang. Chúng đưa hai tiểu đoàn của lữ đoàn biên phòng và một trung đoàn bộ binh từ tỉnh Cam Pốt đánh thẳng vào Sa Kỳ, Thạch Động, xã Mỹ Đức, bắc thị xã Hà Tiên. Mũi tiến công vào xã Vĩnh Điều chúng đưa một bộ phận vào Rọc Xây, sát Nhà máy xi măng Hà Tiên (nay thuộc huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang). Từ ngày 11 đến 14- 6-1977, Trung đoàn 20 thuộc Sư đoàn bộ binh 4 phối hợp với Tiểu đoàn 207 bộ đội địa phương tỉnh Kiên Giang đánh địch, song do địch có quân đông hơn nên ta không đánh bật địch ra được. Tôi lệnh cho anh Nguyễn Đệ, Sư đoàn trưởng Sư đoàn bộ binh 330, điều Trung đoàn 2, Trung đoàn 3 và hai chi đội máy bay chiến đấu (được Bộ quốc phòng chi viện) hiệp đồng với pháo binh Quân khu cùng Trung đoàn tăng - thiết giáp 26 phản kích tiêu diệt địch, đuổi địch ra khỏi biên giới.Sau hai lần tiến công sang tuyến biên giới nước ta tại An Giang và Kiên Giang, địch đều bị thất bại, từ đó chúng liên tục bắn pháo sang đất ta. Ngày 18-7-1977, ta sử dụng không quân tập kích diệt hai trận địa pháo địch ở Cả Ngang, Lục Sơn. Quân khu chỉ đạo cho các đơn vị bảo vệ nhân dân trên tuyến biên giới.Tháng 9-1977, Thường vụ Quân ủy Trung ương họp đề nghị Bộ Chính trị có chủ trương giải quyết tình hình biên giới Việt Nam - Campuchia và điều động hai quân đoàn (3 và 4) của Bộ vào, mở chiến dịch gồm bốn sư đoàn tham chiến. Tuy kết quả còn hạn chế, nhưng đã tạo tiền đề cho việc tổ chức đánh trả địch ở các bước tiếp theo.Từ ngày 5-11-1977 đến 5-l-1978, ta mở chiến dịch lớn gồm tám sư đoàn tham gia đánh địch ra khỏi biên giới và truy kích chúng qua đất Campuchia, có nơi sâu đến 20-30km. Nhưng ngay sau đó, Bộ Chính trị yêu cầu quân đội phải rút quân về.Ngày 31-12-1977, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố về vấn đề biên giới Việt Nam - Campuchia, nêu rõ lập trường quan điểm của Việt Nam là tôn trọng chủ quyền, lãnh thổ hai nước theo nguyên tắc công bằng, hợp lý. Do quân Pol Pot - Ieng Sary (Yêng Xao) liên tục xâm phạm lãnh thổ Việt Nam, nhân dân và lực lượng vũ trang Việt Nam ở vùng biên giới buộc phải chiến đấu tự vệ, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và cuộc sống bình yên của mình1.Ngày 5-2-1978, Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố lập trường ba điểm giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam - Campuchia:1. Chấm dứt ngay mọi hành động thù địch bằng quân sự ở biên giới, lực lượng vũ trang của mỗi bên đứng sâu trong lãnh thổ của mình, cách đường biên 5km.2. Hai bên gặp nhau để bàn bạc và ký một hiệp ước hữu nghị, không xâm lược nhau và ký hiệp ước về biên giới.3. Hai bên sẽ thỏa thuận một hình thức thích hợp bảo đảm quốc tế và giám sát quốc tế2.Những đề nghị hợp tình, hợp lý, nhân nhượng của ta được dư luận quốc tế đồng tình, nhưng tập đoàn Pol Pot - Ieng Sary và quan thầy của chúng lại ngoan cố cự tuyệt, tiếp tục tiến hành chiến tranh và vu cáo Việt Nam xâm lược. Ngày 1-2-1978, Trung ương Đảng của Pol Pot họp bàn chủ trương chống Việt Nam và quyết định thành lập thêm năm sư đoàn. Kế đó, chúng đã điều 13/17 sư đoàn chủ lực và một số trung đoàn địa phương áp sát biên giới, liên tục mở các cuộc tấn công vào lãnh thổ của ta, có nơi chúng tiến sâu tới 15-20km.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG - CHƯƠNG 9 PHẦN 3 | Câu chuyện thời hoa lửa