ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – MỘT CUỘC ĐỜI LỰNG LẪY PHỤNG SỰ TỔ QUỐC VÀ NHÂN DÂN

Trong dòng chảy lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước của dân tộc Việt Nam thế kỷ XX, Đại tướng Lê Đức Anh nổi bật lên như một trong những nhà lãnh đạo kiệt xuất, nhà quân sự xuất sắc của Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam. Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng – ông là vị tướng tài ba trọn đời gắn bó với những chặng đường gian khổ nhưng vinh quang nhất của cách mạng. Trải qua hơn 80 năm hoạt động liên tục, cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Lê Đức Anh là một thiên anh hùng ca sáng ngời về lòng trung thành, bản lĩnh chiến lược và tâm huyết phụng sự Tổ quốc.
Sinh ra tại làng Dưỡng Mong, xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế – vùng đất giàu truyền thống yêu nước, đồng chí Lê Đức Anh đã sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng từ khi mới 17 tuổi. Trong giai đoạn tiền khởi nghĩa, ông hoạt động sôi nổi trong các phong trào công nhân và Thanh niên Dân chủ tại Huế, Đà Nẵng, rồi dấn thân vào miền Nam làm công nhân đồn điền cao su Lộc Ninh. Tại đây, ông không chỉ tổ chức phong trào đấu tranh giai cấp mà còn tham gia thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương, trực tiếp lãnh đạo lực lượng tự vệ đồn điền cao su Lộc Ninh nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí Lê Đức Anh trải qua nhiều vị trí chỉ huy quan trọng ở chiến trường Nam Bộ như Tham mưu trưởng Khu 7, Khu 8, Đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn, đóng góp lớn vào việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và phát triển thế trận chiến tranh nhân dân kiên cường bám trụ giữa lòng địch.
Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tài năng quân sự của đồng chí càng tỏa sáng rực rỡ. Năm 1963, ông trở lại chiến trường miền Nam, giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, rồi Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Ông trực tiếp tham gia chỉ huy nhiều chiến dịch có tính chất bước ngoặt như Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Chiến dịch Nguyễn Huệ 1972, và Chiến dịch Đường 14 – Phước Long. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, với tư cách Phó Tư lệnh Chiến dịch kiêm Tư lệnh Cánh quân hướng Tây Nam, ông đã chỉ huy lực lượng vượt qua vùng đầm lầy sông nước, đánh sập tuyến phòng thủ hiểm yếu của địch, góp phần hoàn thành thắng lợi trọn vẹn sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Sau ngày đất nước thống nhất, trước họa xâm lược ở biên giới Tây Nam và thảm họa diệt chủng do tập đoàn Pol Pot gây ra tại Campuchia, Đại tướng Lê Đức Anh tiếp tục nhận trọng trách lớn lao. Trên cương vị Tư lệnh Quân khu 9, rồi Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, ông đã lãnh đạo các lực lượng vũ trang phối hợp cùng Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng, giúp nhân dân Campuchia hồi sinh từ đống đổ nát. Sự hiện diện và chỉ đạo của ông không chỉ bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam mà còn thể hiện tinh thần quốc tế cao cả, trong sáng.
Khi đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng vào năm 1987, ông đã chèo lái Quân đội thực hiện điều chỉnh chiến lược phòng thủ, từng bước hiện đại hóa lực lượng. Dấu ấn đặc biệt đậm nét của ông gắn liền với chủ quyền biển đảo Tổ quốc vào năm 1988, giữa lúc tình hình quần đảo Trường Sa vô cùng căng thẳng. Đồng chí đã trực tiếp ra đảo Trường Sa Cớ lớn và đọc lời thề lịch sử quyết bảo vệ bằng được từng tấc đất, từng vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc, trở thành biểu tượng tinh thần kiên trung bất khuất của dân tộc.
Được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước năm 1992, Đại tướng Lê Đức Anh tiếp tục thể hiện tư duy đổi mới và tầm nhìn ngoại giao nhạy bén trong giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ phá thế bao vây, cấm vận. Ông có những đóng góp đặt nền móng then chốt trong việc bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Trung Quốc và bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, đưa đất nước hội nhập sâu rộng với thế giới. Đồng thời, với tấm lòng luôn hướng về đồng bào, ông là người đã ký Quyết định quy định danh hiệu Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng" – một chính sách mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc nhằm tri ân những cống hiến, hy sinh vô bờ bến của các người mẹ Việt Nam.
Trải qua gần một thế kỷ sống và cống hiến trọn vẹn cho sự nghiệp cách mạng, Đại tướng Lê Đức Anh đã để lại một di sản đồ sộ về cả quân sự, chính trị và đối ngoại. Ông là hình mẫu trọn vẹn của người chiến sĩ cộng sản kiên trung, một vị Tướng tài ba, quyết đoán nhưng giàu lòng nhân ái. Cuộc đời hoạt động cách mạng oanh liệt của Đại tướng không chỉ là niềm tự hào của Quân đội và nhân dân Việt Nam, mà còn là bài học vô giá về bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần phụng sự cho các thế hệ hôm nay và mai sau.



