ĐẠI TƯỚNG LÊ QUỐC ANH (SINH NĂM 1920)
Đại tướng Lê Đức Anh, tên khai sinh là Lê Đức Anh, sinh ngày 1 tháng 12 năm 1920 tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại tướng Lê Đức Anh là một trong những nhà lãnh đạo, chỉ huy quân sự và chính khách tiêu biểu của Việt Nam trong thế kỷ XX. Ông nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Quân ủy Trung ương và Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Trọn cuộc đời mình, ông đã cống hiến toàn bộ trí tuệ và tâm huyết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đại tướng Lê Đức Anh sinh ra tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, trong một gia đình nông dân nghèo giàu truyền thống yêu nước. Tuổi thơ gắn liền với cảnh áp bức, bóc lột của chế độ thực dân phong kiến đã sớm hun đúc trong ông tinh thần căm thù giặc và khát vọng giải phóng dân tộc. Hoàn cảnh khó khăn rèn luyện cho ông ý chí kiên cường, lối sống giản dị, cần cù và bản lĩnh vượt qua thử thách.
Năm 1937, khi mới 17 tuổi, ông đã tham gia phong trào thanh niên yêu nước ở Huế. Năm 1938, ông gia nhập Đoàn Thanh niên Cứu quốc, tích cực tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia các phong trào đấu tranh. Đến năm 1939, ông chính thức trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương, đánh dấu bước trưởng thành quyết định về nhận thức chính trị và con đường cách mạng. Trong những năm hoạt động bí mật, ông nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam, bị đày ra Côn Đảo, Phú Quốc, nhưng những năm tháng tù đày khắc nghiệt không làm ông khuất phục mà càng tôi luyện thêm bản lĩnh, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng và Bác Hồ.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Lê Đức Anh tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam và nhanh chóng thể hiện năng lực chỉ huy. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông đảm nhiệm nhiều chức vụ từ cấp trung đoàn đến đơn vị chủ lực, tham gia và chỉ huy nhiều trận đánh quan trọng, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước tạm thời chia cắt, ông tiếp tục giữ nhiều cương vị quan trọng trong quân đội. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đại tướng Lê Đức Anh giữ những trọng trách then chốt, từng là Tư lệnh Quân đoàn 4, chỉ huy nhiều chiến dịch lớn như Đường 9 – Nam Lào (1971) và đặc biệt là Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Trong chiến dịch lịch sử này, ông là một trong những chỉ huy chủ lực của các cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn, góp phần quyết định vào thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến, thống nhất đất nước.
Sau năm 1975, Đại tướng Lê Đức Anh tiếp tục được Đảng và Nhà nước tin cậy giao nhiều trọng trách lớn như Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bí thư Quân ủy Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị. Trên cương vị lãnh đạo quân đội, ông đóng góp quan trọng vào việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, đồng thời tham gia chỉ đạo khắc phục hậu quả chiến tranh, giữ vững ổn định chính trị – xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Năm 1992, tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa VIII, ông được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Trên cương vị nguyên thủ quốc gia, Đại tướng Lê Đức Anh có nhiều đóng góp quan trọng trong việc mở rộng quan hệ đối ngoại, thúc đẩy hợp tác quốc tế, hàn gắn vết thương chiến tranh và tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới.
Cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Lê Đức Anh là hình ảnh tiêu biểu của một người cộng sản kiên trung, một vị tướng tài ba và một nhà lãnh đạo có tầm vóc. Từ một cậu bé sinh ra trong vùng quê nghèo Thừa Thiên Huế, ông đã vươn lên trở thành nhân vật lịch sử lớn của dân tộc, để lại dấu ấn sâu đậm trong cả lĩnh vực quân sự lẫn chính trị, xứng đáng là tấm gương sáng cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Nguồn: https://interstellas.com.vn/le-duc-anh-la-ai/



