ĐẠI TƯỚNG LÊ TRỌNG TẤN, CHO ĐẾN NGƯỜI HÙNG LÃNH ĐẠO CỦA DÂN TỘC
Lê Trọng Tấn (1 tháng 10 năm 1914 – 5 tháng 12 năm 1986), tên thật là Lê Trọng Tố, là một Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông từng là Viện trưởng Học viện Quân sự Cao cấp, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam. Ông là vị Đại tướng Việt Nam lớn tuổi nhất vào thời điểm thụ phong: 69 tuổi 352 ngày, và cũng là vị Đại tướng giữ quân hàm hiện dịch ngắn nhất: 2 năm, 343 ngày.[1] Ông là 1 trong 4 vị danh tướng tài ba, lỗi lạc "nhất Tấn (ông) nhì An tam Đan tứ Chơn" dưới thời Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền.

Tháng Tư năm 1975, khi những bước chân hành quân của quân giải phóng ngày càng tiến gần Sài Gòn, cả dân tộc Việt Nam hướng về một thời khắc lịch sử: ngày đất nước thống nhất. Trong những ngày tháng sôi động ấy, Trung tướng Lê Trọng Tấn là một trong những vị chỉ huy có đóng góp quan trọng vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Sinh năm 1914 tại huyện Hoài Đức, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), Lê Trọng Tấn trưởng thành qua những năm tháng chiến tranh gian khổ. Từ chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954 đến các chiến dịch lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông tích lũy kinh nghiệm chỉ huy và nổi tiếng với phong cách làm việc cẩn trọng, quyết đoán. Nhưng mùa Xuân năm 1975 mới là một trong những dấu mốc nổi bật nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông.
Đầu năm 1975, sau những thắng lợi liên tiếp trên chiến trường miền Nam, thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam dần xuất hiện. Lê Trọng Tấn tham gia xây dựng kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam, đồng thời trực tiếp chỉ huy Chiến dịch Huế – Đà Nẵng. Chiến thắng tại Đà Nẵng vào cuối tháng Ba đã góp phần làm thay đổi nhanh chóng cục diện chiến trường, tạo điều kiện để quân ta tiến về Sài Gòn.
Tháng Tư, ông được giao nhiệm vụ Phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, trực tiếp chỉ huy cánh quân phía Đông và Đông Nam. Đây là hướng tiến công quan trọng, với nhiệm vụ vượt qua các tuyến phòng thủ để tiến vào trung tâm Sài Gòn. Trước tình hình chiến trường biến chuyển từng giờ, người chỉ huy phải tính toán chặt chẽ từng bước hành quân, tổ chức lực lượng và phối hợp giữa các đơn vị.
Ngày 26 tháng Tư năm 1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh chính thức mở màn. Dưới sự chỉ huy của Lê Trọng Tấn, các lực lượng trên hướng Đông Nam tiến công những vị trí phòng thủ quan trọng, từng bước mở đường tiến về Sài Gòn. Đến ngày 29 tháng Tư, các đơn vị thọc sâu tiếp tục cơ động, chuẩn bị cho trận đánh quyết định vào trung tâm thành phố. Mỗi giờ trôi qua đều mang ý nghĩa đặc biệt, bởi thời cơ chiến lược không chờ đợi bất cứ ai.
Sáng ngày 30 tháng Tư, các cánh quân tiến vào Sài Gòn. Trong đội hình tiến công từ phía Đông, Quân đoàn 2 tiến về trung tâm thành phố và đánh chiếm Dinh Độc Lập. Đến trưa cùng ngày, chính quyền Sài Gòn tuyên bố đầu hàng, đánh dấu thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và mở ra thời kỳ đất nước thống nhất.
Chiến thắng ấy là kết quả của sự lãnh đạo, chỉ huy và chiến đấu của nhiều lực lượng, nhiều thế hệ người Việt Nam. Trong thành công chung đó, dấu ấn của Lê Trọng Tấn thể hiện ở khả năng tổ chức lực lượng, phán đoán tình hình và chỉ huy cánh quân phía Đông hoàn thành nhiệm vụ lịch sử.
Năm 1975 không chỉ là một cột mốc của dân tộc mà còn là dấu son trong cuộc đời người tướng lĩnh từng đi qua nhiều chiến trường. Nhắc đến Đại tướng Lê Trọng Tấn, người ta nhớ đến một vị chỉ huy gắn liền với những chiến dịch lớn và đặc biệt là mùa Xuân toàn thắng. Tên tuổi ông trở thành một phần trong ký ức lịch sử về ngày 30 tháng Tư năm 1975 – ngày non sông nối liền một dải, khát vọng hòa bình và thống nhất của dân tộc Việt Nam bước sang trang mới.



