ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, tên khai sinh là Nguyễn Vịnh, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1914 tại làng Niêm Phò, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, thành phố Huế). Sinh ra trong một gia đình nông dân, từ nhỏ đồng chí đã chứng kiến cuộc sống cơ cực của người dân dưới ách thống trị của thực dân Pháp và chế độ phong kiến, từ đó sớm hình thành lòng yêu nước và ý chí đấu tranh giải phóng dân tộc.
Năm 1934, đồng chí tham gia phong trào cách mạng; tháng 7 năm 1937 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 3 năm 1938, khi mới 24 tuổi, đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên. Trong những năm 1938–1945, đồng chí ba lần bị thực dân Pháp bắt giam tại các nhà lao Huế, Lao Bảo và Buôn Ma Thuột. Dù bị tra tấn, giam cầm trong điều kiện khắc nghiệt, đồng chí vẫn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cộng sản, tích cực tổ chức học tập chính trị, xây dựng tổ chức Đảng trong nhà tù và lãnh đạo đấu tranh chống chế độ lao tù.
Sau khi được trả tự do vào tháng 3 năm 1945, đồng chí nhanh chóng trở lại hoạt động cách mạng, tham dự Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân Đại hội tại Tân Trào. Tại đây, đồng chí được bầu bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được phân công giữ chức Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng và chỉ đạo giành chính quyền ở Trung Kỳ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí lần lượt giữ các cương vị Bí thư Phân khu ủy Bình – Trị – Thiên, Bí thư Liên khu ủy IV và có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng căn cứ kháng chiến, củng cố chính quyền cách mạng và phát triển lực lượng vũ trang ở miền Trung. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đánh giá cao tài năng lãnh đạo của đồng chí và gọi ông là "Vị tướng của chiến tranh du kích".
Cuối năm 1950, Trung ương Đảng điều động đồng chí giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Trên cương vị này, đồng chí có công lớn trong việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; củng cố hệ thống tổ chức đảng trong quân đội; phát triển đội ngũ cán bộ chính trị; góp phần giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (năm 1951), đồng chí được bầu vào Bộ Chính trị và là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng.
Ngày 31 tháng 8 năm 1959, đồng chí được Chủ tịch nước ký quyết định phong quân hàm Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, trở thành vị Đại tướng thứ hai của Quân đội nhân dân Việt Nam sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Đầu năm 1961, đồng chí được Bộ Chính trị phân công phụ trách Ban Công tác nông thôn Trung ương. Với phong cách sâu sát thực tiễn, thường xuyên xuống cơ sở cùng nông dân lao động sản xuất, đồng chí đã khởi xướng nhiều phong trào thi đua nổi tiếng như "Gió Đại Phong", "Phá xiềng ba sào", góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, xây dựng hậu phương miền Bắc vững mạnh, đáp ứng yêu cầu chi viện cho tiền tuyến miền Nam.
Tháng 10 năm 1964, trước yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Bộ Chính trị cử đồng chí vào chiến trường miền Nam giữ chức Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Bí thư Quân ủy Miền và Chính ủy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam. Trên chiến trường, đồng chí trực tiếp chỉ đạo nhiều chiến dịch quan trọng, cùng Trung ương Cục lãnh đạo quân và dân miền Nam đánh bại các cuộc phản công chiến lược của quân đội Mỹ trong hai mùa khô 1965–1966 và 1966–1967. Từ thực tiễn chiến đấu, đồng chí đã đúc kết phương châm tác chiến nổi tiếng "Nắm thắt lưng địch mà đánh", góp phần phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam, hạn chế ưu thế về hỏa lực và phương tiện hiện đại của quân đội Mỹ.
Ngày 06 tháng 7 năm 1967, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ trần tại Hà Nội do cơn nhồi máu cơ tim cấp khi đang chuẩn bị trở lại chiến trường miền Nam. Sự ra đi của đồng chí là tổn thất lớn đối với Đảng, Quân đội và nhân dân Việt Nam.
Với hơn 30 năm hoạt động cách mạng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, nhà chính trị, nhà quân sự lỗi lạc và là người có nhiều đóng góp quan trọng trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, phát triển nông nghiệp miền Bắc và lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đảng và Nhà nước đã truy tặng đồng chí Huân chương Sao Vàng, cùng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất. Cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh mãi là tấm gương sáng về lòng yêu nước, bản lĩnh chính trị, tinh thần cống hiến và trách nhiệm trước Tổ quốc, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước.



