Anh hùng Lực lượng vũ trang

ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH – VỊ TƯỚNG TÀI BA, TRỌN ĐỜI VÌ ĐẢNG, VÌ DÂN

Từ một người con của quê hương Thừa Thiên Huế giàu truyền thống cách mạng, Nguyễn Chí Thanh đã trưởng thành qua phong trào đấu tranh của quần chúng, những năm tháng tù đày khắc nghiệt và các chiến trường đầy khói lửa. Với bản lĩnh kiên cường, tư duy quân sự sắc bén và tinh thần gắn bó mật thiết với nhân dân, ông trở thành một vị tướng tiêu biểu của Quân đội nhân dân Việt Nam, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử đấu tranh giành độc lập và bảo vệ Tổ quốc.

Huế28/10/2026Phường Chơn Thành (Đoàn phường Chơn Thành)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH – VỊ TƯỚNG TÀI BA, TRỌN ĐỜI VÌ ĐẢNG, VÌ DÂN

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tên thật là Nguyễn Vịnh, sinh ngày 1/1/1914 trong một gia đình bần nông ở thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Năm 14 tuổi, cha mất, Nguyễn Vịnh phải bỏ học đi làm tá điền, trở thành trụ cột của gia đình. Năm 17 tuổi, ông tập hợp thanh niên Niêm Phò lập hội kín chống cường hào, ác bá tại địa phương.

Năm 1934, ông tham gia Mặt trận Bình dân; giai đoạn 1936–1938 hoạt động trong phong trào Mặt trận Dân chủ. Tháng 7/1937, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử làm Bí thư Chi bộ Niêm Phò – tổ chức đảng đầu tiên của huyện Quảng Điền. Nửa năm sau, đầu năm 1938, khi mới 24 tuổi, ông trở thành Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, lãnh đạo nhân dân và dân biểu đấu tranh làm thất bại dự án tăng thuế của thực dân Pháp.

Từ năm 1938 đến năm 1943, ông bị thực dân Pháp bắt ba lần, bị kết án và giam cầm tại các nhà lao Thừa Phủ (Huế), Lao Bảo, Buôn Ma Thuột. Cuối năm 1938, bị giam ở lao Thừa Phủ và kết án hai năm tù, ông được bầu làm Bí thư Chi bộ trong tù, lãnh đạo cuộc đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù giành thắng lợi; vì thế ông bị địch trả thù, tuyên thêm 6 tháng tù và giam ở nhà tù Lao Bảo. Tháng 10/1940, ông cùng Tố Hữu bị chuyển đến nhà tù Buôn Ma Thuột.

Năm 1941, ông cùng một số đồng chí vượt ngục thành công, trở về thành lập Tỉnh ủy lâm thời Thừa Thiên, xây dựng lại cơ sở cách mạng, các đoàn thể Việt Minh và lực lượng tự vệ. Năm 1943, ông lại bị địch bắt; đến năm 1945 mới cùng nhiều tù chính trị khác được trả tự do. Trong chốn lao tù, ông luôn giữ vững khí tiết của người cộng sản.

Tháng 8/1945, Nguyễn Vịnh được cử đi dự Hội nghị toàn quốc của Đảng ở Tân Trào (Tuyên Quang), được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được chỉ định làm Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ và cử vào Tổng bộ Việt Minh. Khi nghe có tên “Nguyễn Chí Thanh” trong danh sách Ban Chấp hành Trung ương, ông quay sang hỏi đồng chí Võ Nguyên Giáp ngồi bên cạnh: “Nguyễn Chí Thanh là ai mà nghe lạ thế!”. Đồng chí Võ Nguyên Giáp mỉm cười: “Là anh chứ ai nữa, chính Bác đặt tên cho anh đấy”. Từ đây, cái tên Nguyễn Chí Thanh đi vào lịch sử cách mạng và lịch sử quân đội ta.

Bác Hồ đã gọi ông là “tướng du kích” ngay từ khi ông còn chưa vào quân đội.

Tháng 2/1947, Mặt trận Huế vỡ, lực lượng cách mạng phải rút khỏi nội thành; thực dân Pháp khủng bố, xóa trắng cơ sở đảng, phong trào Thừa Thiên tưởng như không thể cứu vãn. Tháng 3/1947, tức 40 ngày sau khi quân ta rút khỏi Huế, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Chí Thanh triệu tập Hội nghị Nam Dương lịch sử, chỉnh đốn tổ chức đảng và công tác kháng chiến. Tại hội nghị, ông khẳng định: “Mất đất chưa phải là mất nước. Chúng ta chỉ sợ mất lòng tin của dân. Có lòng tin của dân là có tất cả. Vì vậy chúng ta không được chạy dài. Chúng ta phải trở về với dân”. Theo chỉ đạo của ông, quân ta đánh một số trận, diệt một vài đồn để gây lại lòng tin cho nhân dân, chứng tỏ cách mạng vẫn còn.

Trên chiến trường, ông chỉ đạo bộ đội, du kích thực hiện chiến thuật “ở gần, đánh gần”, “nắm thắt lưng địch mà đánh”, “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”, “vành đai diệt Mỹ”. Cách đánh này đã đánh bại ý đồ “phân tuyến” của Mỹ và quân đội Sài Gòn, hạn chế tối đa uy lực phi pháo của địch. Ông chủ trương tổ chức các đơn vị chủ lực cơ động cấp trung đoàn, sư đoàn đứng chân trên các chiến trường; các Sư đoàn 9, 5, 7 lần lượt ra đời, đánh dấu sự lớn mạnh của chủ lực Miền.

Những chiến thắng Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài, Núi Thành (tháng 5/1965), Vạn Tường (tháng 8/1965), Bàu Bàng, Đất Cuốc… và việc đánh bại cuộc hành quân Junction City đã khẳng định quân và dân Việt Nam không chỉ dám đánh, biết đánh mà còn đánh thắng Mỹ trong chiến lược “chiến tranh cục bộ”. Ông còn chủ trương mở rộng hoạt động lên Tây Nguyên – mặt trận vừa chia lửa với các chiến trường trọng điểm, vừa tạo điều kiện mở tuyến đường chi viện chiến lược bằng cơ giới trên đường Trường Sơn.

Hơn 33 năm liên tục hoạt động cách mạng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn nêu cao tính tiền phong gương mẫu, gần gũi quần chúng, lời nói đi đôi với việc làm. Ông sống “sáng trong, giản dị, khiêm tốn, đoàn kết, chân thành”; nhà thơ Tố Hữu – người bạn tù năm xưa – viết về ông: “Sáng trong như ngọc, một con Người”.

Ông được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng (truy tặng), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất và nhiều huân chương khác. Nhiều đường phố, trường học trong cả nước mang tên Nguyễn Chí Thanh để ghi nhớ công lao của ông.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn